Thừa kế là một trong những chế định quan trọng liên quan đến việc xác định đối tượng được hưởng di sản do người chết để lại, được Nhà nước quy định cụ thể trong Bộ luật dân sự 2015. Về nguyên tắc, người được hưởng thừa kế theo quy định của pháp luật là những người có quan hệ huyết thống và quan hệ nhân thân với người chết như cha, mẹ, vợ, chồng, con, kể cả con nuôi, con riêng. Vậy trong trường hợp nào người con nuôi được hưởng di sản do cha mẹ nuôi để lại và phải đáp ứng các điều kiện gì?

Một trường hợp thực tế như sau: khách hàng là cháu ruột của cha mẹ nuôi, ông được nhận làm con nuôi từ khi còn nhỏ, nhưng cha mẹ nuôi lại không làm thủ tục nhận con nuôi theo quy định của pháp luật, giấy khai sinh cũng không mang họ cha nuôi hoặc mẹ nuôi, thực tế có sống chung từ khi còn nhỏ cho đến nay và ông đã được nhập vào hộ khẩu của cha mẹ nuôi, trong đó xác định có quan hệ với chủ hộ là con.

Sau khi cha mẹ nuôi chết, ông muốn làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế. Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật để chứng minh được quan hệ nuôi dưỡng giữa người con nuôi và cha mẹ nuôi thì bắt buộc phải có giấy khai sinh của người con mang họ của cha nuôi hoặc mẹ nuôi; trường hợp không có giấy khai sinh, thì phải có giấy xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về việc nhận nuôi con nuôi.

Mặc dù trong hộ khẩu có xác định là con và thực tế có sống chung nhưng chưa đủ căn cứ pháp lý để chứng minh quan hệ nuôi dưỡng, do đó không thể xác định ông là người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo quy định của pháp luật đối với di sản do cha mẹ nuôi để lại.

Trong trường hợp này, tài sản của người chết để lại sẽ được giải quyết theo hướng cho người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ hai được nhận di sản.

Qua tình huống trên cho thấy rằng, thực tế trong đời sống hàng ngày có rất nhiều sự kiện xảy ra như: nhận nuôi con, nam nữ sống chung v.v…..nhưng không phải sự kiện nào cũng được Nhà nước công nhận và bảo vệ quyền và lợi ích của các bên tham gia quan hệ đó nếu như không tuân thủ các điều kiện pháp lý tương ứng, mỗi một người dân cần có kiến thức pháp lý cơ bản để không bị mất quyền lợi hợp pháp theo quy định.

Mọi thắc mắc xin vui lòng liên hệ với chúng tôi:

VĂN PHÒNG LUẬT SƯ LÊ GIANG

Trụ sở : 47/1 Nguyễn Văn Đậu, Phường 6, Quận Bình Thạnh, TP.Hồ Chí Minh

Luật sư Lê Hoài Giang- Trưởng văn phòng: 0903 392 117 (Telephone, Zalo, Viber, …)

Email: giang.lehoai@legianglaw.vn

Web: www.legianglaw.vn  

Di chúc là một giấy tờ hợp pháp thể hiện nguyện vọng, mong muốn của một người về cách phân chia tài sản mình có được sau khi chết. Vậy làm sao để lập được một văn bản di chúc có giá trị pháp lý, được pháp luật công nhận, không bị vô hiệu? Đây là thắc mắc của khách hàng mà Legianglaw thường xuyên được đề nghị tư vấn, bài viết sau sẽ cung cấp 1 số quy định pháp luật về vấn đề này.

Để di chúc có giá trị pháp lý, cần phải đảm bảo di chúc hợp pháp. Vì vậy, trong quá trình thực hiện việc lập di chúc bằng văn bản, cần lưu ý 1 số điều cơ bản sau:

– Người lập di chúc: là người đã thành niên, người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý; không mất năng lực hành vi dân sự, phải minh mẫn, sáng suốt, không mắc bệnh tâm thần, không bị ép buộc, cưỡng chế để lập di chúc.

Nội dung bắt buộc trong di chúc: Ngày, tháng, năm lập di chúc; họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc; họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản hoặc xác định rõ các điều kiện để cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản; di sản để lại và nơi có di sản; việc chỉ định người thực hiện nghĩa vụ và nội dung của nghĩa vụ (nếu có). Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu; nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được đánh số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc.

Người làm chứng cho di chúc: Người làm chứng cho việc lập di chúc có thể bất kỳ người nào và phải là những người không có mối quan hệ thừa kế với người để lại di sản thì mới được coi là hợp pháp .

Thời điểm lập di chúc: Là thời điểm một người còn sống hoặc đang lâm bệnh nặng và có nguyện vọng để lại tài sản cho người khác sau khi chết.

Công chứng di chúc: Sau khi lập di chúc, người lập di chúc phải tuyên bố nội dung di chúc, ký và điểm chi vào di chúc trước mặt công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã. Người có thẩm quyền chứng thực hoặc công chứng viên ký chứng nhận vào bản di chúc trước mặt người lập di chúc và người làm chứng.

Hy vọng các thông tin liên quan về việc lập di chúc bằng văn bản mà chúng tôi cung cấp trên đây giúp cho người lập di chúc và người thừa kế hiểu rõ hơn về quyền lợi hợp pháp của mình.

Nếu bạn cần tư vấn chi tiết hơn về trường hợp cụ thể của bạn, vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo thông tin sau:

VĂN PHÒNG LUẬT SƯ LÊ GIANG- LEGIANGLAW

Địa chỉ: 47/1 Nguyễn Văn Đậu, Phường 6, Quận Bình Thạnh, TP.HCM, Việt Nam.

Luật sư Lê Hoài Giang- Trưởng văn phòng

Điện thoại:  0903.392.117

Website: www.legianglaw.vn

Email: giang.lehoai@legianglaw.vn

Pháp luật quy định, cá nhân nào cũng có quyền định đoạt tài sản của mình bằng cách để lại tài sản của mình qua di chúc trước khi chết.  Tuy nhiên vì nhiều lý do khác nhau mà người lập di chúc không để lại tài sản của mình cho cha, mẹ, vợ, chồng, con chưa thành niên. Để bảo vệ quyền lợi của những người có quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân gắn bó với người để lại di sản, pháp luật đã có những quy định về trường hợp những người thừa kế không có tên trong di chúc vẫn hưởng thừa kế.

Theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015, di sản của người chết để lại sẽ được chia theo di chúc hợp pháp, nếu không có di chúc hoặc di chúc không hợp lệ thì chia theo pháp luật. Tuy nhiên, dù phân chia theo di chúc hay theo pháp luật thì 4 nhóm người dưới đây được đều nhận được một phần di sản, kể cả khi không có tên trong di chúc. Điều 644 BLDS 2015 quy định cụ thể như sau:

  1. Con chưa thành niên: Trong trường hợp này, độ tuổi chưa thành niên được xác định tại thời điểm mở thừa kế tức là thời điểm người có di sản thừa kế chết.
  2. Cha/ mẹ của người để lại di sản: Cha, mẹ đẻ hoặc cha, mẹ nuôi của người để lại di sản.
  3. Vợ/ chồng của người để lại di sản: Vợ, chồng hợp pháp của người để lại di sản, theo pháp luật về hôn nhân và gia đình.
  4. Con thành niên mà không có khả năng lao động của người để lại di sản.

Như vậy, nếu không có tên trong di chúc nhưng thuộc các trường hợp kể trên thì mỗi người sẽ được hưởng phần di sản bằng 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật.

Trường hợp người để lại di chúc chỉ cho họ hưởng di sản ít hơn 2/3 của một suất thừa kế theo pháp luật, thì những đối tượng này vẫn được hưởng bằng 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật.

Tuy nhiên, nếu họ từ chối nhận di sản hoặc thuộc các trường hợp quy định tại K1 Điều 621 Bộ luật dân sự 2015 sau đây thì họ không có quyền hưởng di sản thừa kế:

  1. Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó; Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;
  2. Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;
  3. Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, huỷ di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.

Hy vọng thông tin trong bài viết trên sẽ giúp các bạn hiểu rõ hơn về quy định liên quan đến những người thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc.

Nếu  bạn còn bất cứ vấn đề gì chưa rõ, vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi để được tư vấn, giải đáp một cách cụ thể nhất

VĂN PHÒNG LUẬT SƯ LÊ GIANG- LEGIANGLAW

Địa chỉ: 47/1 Nguyễn Văn Đậu, Phường 6, Quận Bình Thạnh, TP.HCM, Việt nam.

Trưởng văn phòng: Luật sư Lê Hoài Giang

Luật sư tư vấn(Telephone, zalo, viber) : 0903.392.117-0902.268.667- 0901.85.96.83.

Website: www.legianglaw.vn

Email: giang.lehoai@legianglaw.vn

Nhằm xác định việc phân chia thừa kế cho từng trường hợp thì thời điểm và địa điểm mở thừa kế là vấn đề mà được nhiều người quan tâm hiện nay. Để nắm rõ được quy định của pháp luật về vấn đề này, bạn có thể tham khảo nội dung bài viết sau.

1. Ý nghĩa của việc xác định thời điểm và địa điểm mở thừa kế

*** Kể từ thời điểm mở thừa kế thì:

  • Người hưởng di sản thừa kế được quyền khai nhận di sản thừa kế theo di chúc.
  • Nếu người chết không để lại di chúc thì người hưởng di sản thừa kế được quyền thỏa thuận phân chia di sản thừa kế
  • Nếu việc phân chia di sản không thỏa thuận được thì người hưởng di sản thừa kế được quyền khởi kiện chia di sản thừa kế
  • Thời điểm mở thừa kế là căn cứ xác định việc khởi kiện tranh chấp còn thời hạn khởi kiện hay không.

*** Địa điểm mở thừa kế là nơi công bố việc thừa kế, kiểm kê tài sản của người để lại thừa kế và xác định toà án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về thừa kế.

2. Thời điểm mở thừa kế

Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Trong trường hợp Toà án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 71 của Bộ luật này.(Khoản 1, Bộ luật dân sự 2015).

Như vậy, theo quy định trên thì trường hợp người chết về mặt sinh học (chết thực tế) thì thời điểm mở thừa kế đối với di sản do người đó để lại là thời điểm người đó chết, thời điểm này được xác định dựa trên giấy chứng tử của người đã chết. 

Trường hợp nếu 1 người chết bị Tòa án tuyên bố chết (chết về mặt pháp lý) thì thời điểm mở thừa kế đối với di sản do người đó để lại là ngày chết của người đó xác định trong quyết định tuyên bố người đó đã chết. 

Ngoài ra, nếu không xác định được chính xác ngày chết thì ngày thì ngày quyết định của Toà án tuyên bố người đó đã chết có hiệu lực pháp luật được coi là ngày người đó chết.

3. Địa điểm mở thừa kế

Khoản 2 Điều 611 Bộ luật dân 2015 sự quy định: “Địa điểm mở thừa kế là nơi cư trú cuối cùng của người chết để lại di sản;nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng thì địa điểm mở thừa kế là nơi có toàn bộ hoặc phần lớn di sản.”

Địa điểm mở thừa kế được xác định theo đơn vị hành chính (cấp xã phường). Do đó, có thể ra ủy ban nhân dân phường nơi người để lại di sản chết để mở thừa kế.

Tuy nhiên trong thực tế, một người trước khi chết có thể ở nhiều nơi khác nhau do đó, BLDS quy đinh địa điểm mở thừa kế là nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản (có thể là nơi thường trú hoặc cũng có thể là nơi tạm trú của người để lại di sản).

Trong trường hợp không xác định được nơi cư trú cuối cùng, thì địa điểm mở thừa kế là nơi có toàn bộ hoặc phần lớn di sản.

Bộ luật dân sự quy định địa điểm mở thừa kế vì nơi đó thường phải thực hiện việc: quản lý di sản, kiểm kê di sản trong trường hợp cần thiết để ngăn chặn hành vi tẩu tán tài sản (trong trường hợp cần thiết để tránh tẩu tán tài sản), xác định những ai là người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật…

 Địa điểm mở thừa kế còn là nơi thực hiện việc thanh toán và phân chia di sản.

Ngoài ra nếu có người trong diện thừa kế từ chối nhận di sản thì phải thông báo cho cơ quan công chứng hoặc ủy ban nhân dân xã phường thị trấn nơi mở thừa kế về việc từ chối nhận di sản.

 Trên đây là nội dung tư vấn của chúng tôi về 1 số quy định pháp luật liên quan đến thời điểm và địa điểm mở thừa kế.

Nếu còn chưa rõ hoặc cần hỗ trợ các dịch vụ pháp lý khác, hãy liên lạc với Luật sư của chúng tôi theo thông tin sau:

VĂN PHÒNG LUẬT SƯ LÊ GIANG- LEGIANGLAW
Địa chỉ: 47/1 Nguyễn Văn Đậu, phường 6,  Q. Bình Thạnh, TP. HCM.

Trưởng văn phòng: Luật sư Lê Hoài Giang

Điện thoại: 0903.392.117 (Telephone, Zalo, Viber…)

Web: www.legianglaw.vn

Email: giang.lehoai@legianglaw.vn

Bà Nguyễn Thị Cúc ở Tp. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai hỏi:

Vợ chồng tôi lấy nhau đã được hơn 10 năm, do tính tình không hòa hợp, nên chúng tôi đã ly thân nhiều năm nay, nhưng do vị trí công tác, lại sợ ảnh hưởng đến việc học hành của các con nên chúng tôi không ly hôn mà thỏa thuận yêu cầu Tòa án chia tài sản chung vợ chồng. Nhưng sau đó chồng tôi đột ngột qua đời vì một tai nạn, sau khi chồng tôi mất toàn bộ số tài sản của chồng tôi do gia đình nhà chồng chiếm hữu sử dụng hết. Bản thân tôi không có quyền lợi gì. Xin cho biết trường hợp chồng tôi chết không để lại di chúc thì tôi có được quyền yêu cầu chia di sản thừa kế mà chồng tôi để lại không?

Sau đây là nội dung tư vấn của Văn phòng luật sư Lê Giang- Legianglaw:

Chào bà Nguyễn Thị Cúc, theo nội dung bà trình bày, vợ chồng bà lấy nhau được 10 năm và do tính tình không hợp nhau nên sống ly thân mà không ly hôn, và vợ chồng bà yêu cầu chia tài sản chung, nhưng sau đó chồng bà đột ngột qua đời, toàn bộ tài sản của chồng bà do nhà chồng chiếm dụng. chồng bà chết không để lại di chúc và bà hỏi bà có quyền gì hay không.

Chúng tôi xin trả lời như sau:

Căn cứ vào Điều 29 của luật HNGĐ 2000, thì khi hôn nhân còn tồn tại, vợ chồng có quyền yêu cầu tài sản chung do vợ chồng tạo lập trong thời kỳ hôn nhân. Vợ chồng bà mặc dù đã chia tài sản chung nhưng chưa ly hôn nên bà và chồng bà vẫn có quyền và nghĩa vụ đối với nhau, có nghĩa là bà có quyền hưởng di sản do chồng bà để lại. Theo quy định tại Điều 651 BLDS 2015 thì cha mẹ chồng bà, bà và các con là hàng thừa kế thứ nhất đối với di sản do chồng bà chết để lại.

Bà có thể thương lượng với nhà chồng bà để bà và các con được hưởng phần di sản thừa kế từ chồng bà, trong trường hợp không thương lượng được bà có quyền khởi kiện để yêu cầu tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Hy vọng nội dung trên đây giúp bà làm rõ được những thắc mắc của bà.  Hãy liên hệ với chúng tôi nếu bạn cần tư vấn, hỗ trợ vấn đề cụ thể hơn:

VĂN PHÒNG LUẬT SƯ LÊ GIANG-LEGIANGLAW
 

47/1 Nguyễn Văn Đậu, Phường 6, Quận Bình Thạnh, Tp.HCM, VN

Trưởng văn phòng: Luật sư Lê Hoài Giang

Luật sư tư vấn Phone/Viber/Zalo: 0903.392.117- 0902.268.667- 0901.85 96 83

Web: www.legianglaw.vn
Email: giang.lehoai@legianglaw.vn

Việc một người bị tòa án tuyên bố là đã chết nhưng thực tế vẫn còn sống và trở về địa phương không phải là trường hợp hiếm, sự việc này xảy ra rất nhiều trong đời sống, mà phổ biến đối với những người trước năm 1975 vượt biên sang nước ngoài, có trường hợp bị chết trên đường vượt biên, có người thì bị đưa đi tị nạn ở một số nước khác trước khi đến Mỹ. Do đó, để thông tin cho người thân tại Việt Nam biết mình còn sống là điều không dễ dàng, người ở Việt Nam cũng vậy, không có cách để biết người thân của mình còn sống hay đã chết, đây là tình hình chung vào thời điểm đó.

Do người thân tại Việt Nam không liên lạc được nên cứ nghĩ là đã chết, nên họ đã làm thủ tục tuyênbố một người là đã chết, nhằm giải quyết một số thủ tục pháp lý liên quan đến nhân thân và tài sản tại Việt Nam như: tuyên bố chết và yêu cầu ly hôn đối với người vợ/chồng của người đó, bổ sung hồ sơ khai nhận di sản thừa kế do cha mẹ để lạiv.v.v….

Một vụ việc thực tế mà Văn phòng luậtsư Lê Giang-Legianglaw đã thực hiện: bà H có chồng và 03 người con đều vượt biên sang Mỹ vào năm 1986, sau đó mất liên lạc hoàn toàn với bà H. Trước khi vượt biên sang Mỹ thì bà H và chồng có tạo lập được 01 căn nhà tại quận 8, Tp.HCM và chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất.  Do đó, bà H đã lập thủ tục xin cấp giấy chứng nhận nhưng bị vướng do liên quan đến người chồng  – là đồng sở hữu và 03 người con là người thừa kế từ cha (cũng đã mất tích khi vượt biên). Vì vậy, bà H đã làm thủ tục tuyên bố một người là đã chết đối với chồng và 03 người con, cũng đã tiến hành làm giấy khai tử.

Tuy nhiên, nay bà X là con của bà H – là người còn sống duy nhất trong đợt vượt biên vào năm 1986 đã trở về Việt Nam, nhưng về mặt pháp lý bà X đã chết theo tuyên bố của tòa án. Bà X muốn khôi phục lại quyền và nghĩa vụ của mình để nhận phần di sản thừa kế do cha để lại đối với căn nhà nêu trên. Bà X đã đến VPLS Lê Giang nhờ tư vấn và hỗ trợ thực hiện các thủ tục pháp lý nói trên.

Sau khi nghiên cứu các chứng từ do khách hàng cung cấp và các quy định của pháp luật, VPLS Lê Giang- Legianglaw đã nhận  vụ việc và tiến hành nộp đơn yêu cầu hủy một phần quyết định tuyên bố một người là đã chết đối với bà X tại tòa án nhân dân Tp.HCM, đặc biệt khách hàng vẫn đang cư trú tại Mỹ, chỉ lập ủy quyền về Việt Nam cho luật sư đại diện cho mình từ khi nộp đơn cho đến khi có quyết định có hiệu lực pháp luật. Hiện tại bà X đã được khôi phục lại các quyền và nghĩa vụ của mình, được nhận phần di sản thừa kế do cha bà X để lại.

Đây khôngchỉ là vụ việc pháp lý đơn thuần – luật sư thực hiện thủ tục tố tụng tại tòa án,mà nó có ý nghĩa vô cùng đặc biệt, giúp cho một người “sống lại” về mặt pháp lý, khôi phục lại các quyền và lợi ích pháp lý đã bị mất.

Hy vọng nội dung của bài viết trên giúp bạn nắm được một số kiến thức để áp dụng vào thực tế. Nếu cần hiểu rõ hơn về trường hợp của cá nhân bạn thì bạn vui lòng liên lạc với chúng tôi để được luật sư tư vấn miễn phí.

——————————–
VĂN PHÒNG LUẬT SƯ LÊ GIANG- Legianglaw chuyên thực hiện các dịch vụ pháp lý đa dạng, đặc biệt xử lý những hồ sơ liên quan nhà đất KHÓ, PHỨC TẠP và liên quan đến người Viêt Nam ĐỊNH CƯ Ở NƯỚC NGOÀI.

Văn phòng chúng tôi cam kết không nhận phí khi hồ sơ không hoàn tất.

Địa chỉ văn phòng: 47/1 Nguyễn Văn Đậu, Phường 6, Quận Bình Thạnh, TP.HCM

Website: www.legianglaw.vn

Email: giang.lehoai@legianglaw.vn

Luật sư tư vấn(Telephone, zalo, viber) : 0903.392.117-0902.268.667- 0901.85.96.83.

Di sản thừa kế được phân loại thành bất động sản và động sản. Trong đó bất động sản thừa kế phổ biến nhất đó là nhà đất. Đây là loại tài sản có giá trị nên khi  nhận được thừa kế người thừa hưởng thường thắc mắc là họ có phải nộp loại thuế gì không ngoài giá trị tài sản họ được nhận. Qua bài viết này, Legianglaw sẽ cung cấp các thông tin cụ thể mà người nhận thừa kế sẽ phải nộp thuế hay không như sau:

1/ Thu nhập phải nộp thuế thu nhập cá nhân 

Theo quy định tại Điểm c, Khoản 9 Điều 2 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính đối với các trường hợp phải nộp thuế thu nhập cá nhân khi nhận thừa kế là bất động sản bao gồm: quyền sử dụng đất; quyền sử dụng đất có tài sản gắn liền với đất; quyền sở hữu nhà, kể cả nhà ở hình thành trong tương lai; kết cấu hạ tầng và các công trình xây dựng gắn liền với đất, kể cả công trình xây dựng hình thành trong tương lai; quyền thuê đất; quyền thuê mặt nước; các khoản thu nhập khác nhận được từ thừa kế là bất động sản dưới mọi hình thức; trừ thu nhập từ thừa kế là bất động sản theo hướng dẫn tại Điểm d, Khoản 1, Điều 3 Thông tư này.

Cũng theo quy định tại Thông tư này thì thu nhập từ nhận thừa kế, nhận quà tặng là bất động sản (gồm cả nhà ở và công trình xây dựng hình thành trong trương lai) giữa những người sau đây thì được miễn thuế thu nhập cá nhân:

– Giữa vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi;
– Cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha mẹ vợ, mẹ vợ với con rể;
– Ông bà nội ngoại với các cháu; anh chị em ruột với nhau;

2/ Nộp lệ phí trước bạ:

Khoản 10 Điều 9 Nghị định số 140/2016/NĐ-CP quy định về những trường hợp không phải đóng lệ phí trước bạ gồm:

Nhà, đất nhận thừa kế hoặc là quà tặng giữa: Vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị, em ruột với nhau
Những người có mối quan hệ với nhau như trên khi tiến hành xin cấp giấy chứng nhận đất thừa kế, cho tặng thì được miễn hoàn toàn lệ phí trước bạ.

Nếu không thuộc các trường hợp trên thì khi đăng ký chuyển quyền sử dụng đất người hưởng thừa kế đất đai phải nộp thuế thu nhập cá nhân (2%), lệ phí trước bạ (0,5%) theo quy định chung.

Như vậy, người nhận được thừa kế sẽ phải đóng các loại thuế như trên hay không tùy vào từng trường hợp cụ thể mà pháp luật quy định. Cần tư vấn chi tiết hơn hoặc cần hỗ trợ thực hiện các thủ tục pháp lý, vui lòng liên hệ với chúng tôi:

VĂN PHÒNG LUẬT SƯ LÊ GIANG- chuyên thực hiện các dịch vụ pháp lý đa dạng, đặc biệt xử lý những hồ sơ liên quan thửa kế, nhà đất KHÓ và liên quan đến người Viêt Nam ĐỊNH CƯ Ở NƯỚC NGOÀI.

Chúng tôi sẽ tư vấn, hỗ trợ, hướng dẫn cho các bạn từng bước thủ tục cho đến khi có hoàn tất các thủ tục cần thiết.

Địa chỉ văn phòng: 47/1 Nguyễn Văn Đậu, Phường 6, Quận Bình Thạnh, TP.HCM

Website: www.legianglaw.vn

Email: giang.lehoai@legianglaw.vn

Luật sư tư vấn(Telephone, zalo, viber) : 0903.392.117-0902.268.667- 0901.85.96.83.

Thực hiện quyền của chủ sở hữu, chủ sử dụng bất động sản do cha mẹ để lại,người Việt Nam khi định cư ở nước ngoài khi muốn mua bán nhà, chuyển nhượng đất, khai nhận di sản hoặc thực hiện các thủ tục hành chính khá tại Việt Nam, nhưng không có điều kiện về Việt Nam, thì sẽ được thực hiện bằng phương thức ký Hợp đồng ủy quyền cho người thân ở Việt Nam thực hiện thay. Hợp đồng ủy quyền phải được công chứng tại cơ quan Đại sứ quán hoặc Lãnh sự quán Việt Nam tại nước nơi người ủy quyền cư trú, khi công chứng, cơ quan công chứng thường chỉ giao cho người yêu cầu công chứng 01 bản chính văn bản công chứng để gửi về Việt Nam. Trước đây, việc người ủy quyền chỉ gửi 01 bản chính ủy quyền về Việt Nam, người nhận ủy quyền vẫn được giữ bản chính.

Tuy nhiên, hiện nay theo Công văn số 2565/BTP-BTTP ngày 16/7/2020 của Bộ Tư Pháp hướng dẫn thực hiện nghiệp vụ công chứng, thì đối với trường hợp chứng thực Hợp đồng ủy quyền, mà nên ủy quyền và bên được ủy quyền không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng để ký ủy quyền, thì bên ủy quyền yêu cầu tổ chức hành nghề công chứng nơi họ cư trú công chứng hợp đồng ủy quyền; bên được ủy quyền yêu cầu tổ chức hành nghề công chứng nơi họ cư trú công chứng tiếp vào bản gốc hợp đồng ủy quyền này. Điều này đồng nghĩa với việc, tổ chức hành nghề công chứng tại Việt Nam sẽ lưu 01 bản chính Hợp đồng ủy quyền, như vậy người được ủy quyền ở Việt Nam chỉ được giữa bản sao hợp đồng ủy quyền.

Theo quy định Luật công chứng năm 2014 và Nghị định 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 không có quy định hạn chế số lượng bản chính văn bản khi công chứng hợp đồng, giao dịch. Do đó, khi ký Hợp đồng ủy quyền từ nước ngoài về Việt Nam để thực hiện công việc, người yêu cầu công chứng có quyền yêu cầu cơ quan công chứng cấp đủ số lượng bản chính văn bản công chứng theo nhu cầu sử dụng, ít nhất là 02 bản chính trở lên.

Lưu ý quan trọng trên nhằm giúp cho mọi người thực hiện công chứng ủy quyền được đầy đủ, tránh việc phải làm lại lần thứ hai, mất thời gian và chi phí.

Văn phòng luật sư Lê Giang có hỗ trợ soạn thảo và thực hiện thủ tục công chứng Hợp đồng ủy quyền tại cơ quan Lãnh sự quán/Đại sứ quánViệt Nam tại Hoa Kỳ, với thủ tục nhanh gọn, tiện íchvà chi phí hợp lý.

Xin liên hệ với chúng tôi để được tư vấnvà thực hiện dịch vụ một cách tốt nhất.

VĂN PHÒNG LUẬT SƯ LÊ GIANG với hơn 13 năm kinh nghiệm chuyên xử lý những hồ sơ liên quan đến người Việt Nam ĐỊNH CƯ Ở NƯỚC NGOÀI.

VĂN PHÒNG CHÚNG TÔI CAM KẾT KHÔNG NHẬN PHÍ KHI HỒ SƠ KHÔNG HOÀN TẤT.

Trụ sở : 47/1 Nguyễn Văn Đậu, Phường 6, Quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh
☎ Luật sư Lê Hoài Giang: 0903 392 117 (Telephone, Zalo, Viber, Facetime…)

   Website: www.legianglaw.vn

    Email: giang.lehoai@legianglaw.vn

Trong quá trình tư vấn về di chúc và thừa kế cho khách hàng ,Văn phòng luật sư Lê Giang- LEGIANGLAW thường được hỏi rất nhiều câu hỏi liên quan như : Tôi có nguyện vọng để di chúc 1 phần tài sản làm nơi thờ cúng có được không? tôi có được chỉ định người được thừa kế trong di chúc?, tôi có được phân chia phần tài sản cho từng người hay không?Di chúc có thể được bổ sung hay sửa đổi không?… Nội dung bài viết sau đây sẽ tổng hợp lại các quyền của người lập di chúc để trả lời các câu hỏi trên theo những quy định của pháp luật hiện hành.

1/Chỉ định người thừa kế và có quyền truất quyền hưởng di sản của người thừa kế

  • Người để lại di chúc có quyền chỉ định người thừa kế ý chí nguyện vọng cá nhân của mình mà không phụ thuộc vào ý chí của các chủ thể khác ( cá nhân, tổ chức, pháp nhân).
  • Người để lại di sản thừa kế có quyền truất quyền hưởng di sản của người thừa kế nhưng trừ các trường hợp  được hưởng di sản thừa kế mà không phụ thuộc vào nội dung của di chúc bao gồm con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng hoặc con chưa thành niên mà không có khả năng lao động sẽ được hưởng số di sản thừa kế bằng hai phần ba suất di sản của người thừa kế theo pháp luật.

2/ Có quyền phân chia khối di sản cho từng người thừa kế

  • Người để lại di sản thừa kế có quyền phân chia cụ thể cho người thừa kế nào hưởng phần di sản là bao nhiêu hoặc hưởng di sản là hiện vật gì đối với di sản thừa kế thuộc quyền sở hữu của mình.

3/ Có quyền dành một phần di sản vào việc thờ cúng, di tặng.

  • Người để lại di sản có quyền dùng một phần di sản của mình vào việc thờ cúng và chỉ định một người trong di chúc thực hiện việc quản lý tài sản đó. Tuy nhiên, trường hợp toàn bộ di sản của người chết không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó thì không được dành một phần di sản dùng vào việc thờ cúng.
  • Di tặng là việc người để lại di sản dành một phần trong số di sản thừa kế để tặng cho người khác và điều này được thể hiện rõ trong di chúc.

4/ Giao nghĩa vụ cho người thừa kế

  • Nếu người để lại di sản chưa thực hiện một số công việc liên quan đến lợi ích vật chất của người khác trước khi qua đời thì người nhận thừa kế phải thực hiện thay như việc trả nợ hoặc bồi thường thiệt hại,… Người thừa kế không có trách nhiệm thực hiện toàn bộ nghĩa vụ mà người để lại di sản thừa kế để lại mà chỉ thực hiện phần nghĩa vụ trong phạm vi di sản được hưởng của mình trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
  • Tuy nhiên người thừa kế không phải thực hiện các nghĩa vụ gắn liền với nhân thân của người để lại di sản.

5/ Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản

  • Để đảm bảo nguyện vọng của mình không bị người khác xâm phạm hoặc tránh việc di chúc bị thất lạc, hư hỏng, người để lại di sản được quyền chỉ định giao nhiệm vụ cụ thể về người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản.

6/ Sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc

  • Người để lại di sản có quyền tự mình sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc hủy bỏ di chúc theo ý chí cá nhân của mình. 
  • Sửa đổi di chúc là người để lại di sản bằng ý chí của mình phủ nhận một phần của di chúc và thay thế những nội dung mới, theo đó phần mới sửa đổi sẽ là phần có hiệu lực thay thế phần bị sửa đổi.
  • Bổ sung di chúc là việc mà người để lại di sản bổ sung những điều chưa có của di chúc hoặc làm rõ hơn, chi tiết hơn những điều đã được quy định trong di chúc. Theo đó, cả phần nội dung hiện tại và phần nội dung mới được bổ sung cùng có hiệu lực.
  • Thay thế di chúc là việc người để lại di sản thừa kế hủy bỏ toàn bộ bản di chúc cũ và thay vào đó là một di chúc mới.
  • Hủy bỏ di chúc là việc người để lại di sản thừa kế hủy bỏ toàn bộ bản di chúc cũ nhưng không lập ra bản di chúc mới thay thế.

VĂN PHÒNG LUẬT SƯ LÊ GIANGLEGIANGLAW hơn 13 năm kinh nghiệmchuyên xử lý những hồ sơ di chúc, tranh chấp thừa kế , khai di sản thừa kế KHÓ và thừa kế liên quan đến người Viêt Nam ĐỊNH CƯ Ở NƯỚC NGOÀI.

Bạn còn nhiều các vấn đề cần tư vấn liên quan đến thủ tục lập di chúc này? Hãy liên lạc với chúng tôi để được hỗ trợ, hướng dẫn các bạn từng bước thủ tục cho đến khi có hoàn tất các thủ tục cần thiết:

– Tư vấn về thủ tục lập di chúc;

– Tư vấn quyền và nghĩa vụ của người lập di chúc;

– Tư vấn sửa đổi, bổ sung, thay thế di chúc;

– Tư vấn thủ tục công chứng, chứng thực, gửi giữ di chúc ;

– Tư vấn thủ tục công bố di chúc;

 – Tư vấn giải thích nội dung di chúc.

VĂN PHÒNG LUẬT SƯ LÊ GIANG

Trụ sở: 47/1 Nguyễn Văn Đậu, Phường 6, Quận Bình Thạnh, TP.HCM, Việt nam.

Trưởng văn phòng: Luật sư Lê Hoài Giang

Luật sư tư vấn (Telephone, zalo, viber) : 0903.392.117-0902.268.667-
0901.85.96.83.

Website: legianglaw.vn
Email: giang.lehoai@legianglaw.vn

Thừa kế theo pháp luật là việc dịch chuyển tài sản của người chết cho những người còn sống theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định. Người được thừa kế theo pháp luật là những người có quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân và nuôi dưỡng. Hàng thừa kế thứ 2 được quyền thừa kế khi không còn ai ở hàng thừa kế thứ 1 do đã chết, không có quyền hưởng di sản,bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.Vậy pháp luật quy định hàng thừa kế thứ 2 gồm những ai và cụ thể trường hợp nào thì hàng thừa kế thứ 2 được hưởng thừa kế di sản.

Bài viết sau sẽ giúp bạn hiểu rõ quy định pháp luật về vấn đề này.

1. Hàng thừa kế thứ 2 gồm những ai?

Tại điều 651 Bộ luật dân sự 2015 quy định gồm có 3 hàng thừa kế theo pháp luật như sau:

– Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết.

– Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại.

– Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

Để xác định hàng thừa kế thứ cần làm rõ các khái niệm ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại và anh chị em ruột.

Cụ thể ông nội, bà nội là người đã sinh ra cha của một người; ông ngoại, bà ngoại là người đã sinh ra mẹ của người đó. Anh, chị, em ruột là những người có cùng ít nhất cha hoặc mẹ. Quan hệ này chỉ được xác định trên quan hệ huyết thống.

Như vậy, hàng thừa kế thứ 2 gồm những người có quan hệ với người chết dưới đây:

– Ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột;

– Cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

2. Khi nào hàng thừa kế thứ 2 được hưởng thừa kế?

Theo quy định pháp luật hiện hành thì những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản theo nguyên tắc những người thừa kế cùng hàng sẽ được hưởng phần di sản bằng nhau. Do đó, hàng thừa kế thứ 2 được xét để hưởng di sản thừa kế trong các trường hợp sau:

  • Người để lại di sản không có di chúc
  • Di chúc không hợp pháp
  • Hàng thừa kế thứ 1 không còn ai, do đã chết hoặc không có quyền hưởng di sản;
  • Người ở hàng thừa kế thứ 1 bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản thừa kế;

Trên đây là nội dung tư vấn của chúng tôi về 1 số thông tin liên quan đến hàng thừa kế thứ 2 theo quy định pháp luật.

Để được tư vấn cụ thể về trường hợp của bạn, hãy liên lạc với Luật sư của chúng tôi để được hỗ trợ:

Văn phòng luật sư Lê Giang
Địa chỉ: 47/1 Nguyễn Văn Đậu, phường 6,  Q. Bình Thạnh, TP. HCM.
Điện thoại: 028 6672 6117   

Trưởng văn phòng: Luật sư Lê Hoài Giang

Điện thoại:0903.392.117 (Telephone, Zalo, Viber…)

Email: lsgiangle@gmail.com

www.legianglaw.com.vn