Câu hỏi tư vấn:

Cha đứng tên đồng sử dụng QSD đất và QSH nhà ở cùng với bà nội và người chú. Người chú đã thế chấp nhà đất trên và được vay vốn ngân hàng với tư cách cá nhân. Khi cha chết thì người chú vẫn chưa đáo hạn trả nợ ngân hàng. Vậy các đồng thừa kế của người chết có phải liên đới trả nợ vay của người chú không? Các đồng thừa kế muốn khai di sản thừa kế  được không và thủ tục như thế nào? Kính nhờ luật sư tư vấn giúp.

Trả lời:

Người chú đã đi thế chấp căn nhà với tư cách cá nhân và có sự đồng ý của người cha và bà nội, theo quy định tại K2 Điều 64 NĐ 43/2014: “Hợp đồng, văn bản giao dịch về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất của nhóm người sử dụng đất, nhóm chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất phải được tất cả các thành viên trong nhóm ký tên hoặc có văn bản ủy quyền theo quy định của pháp luật về dân sự, trừ trường hợp các chủ sở hữu căn hộ cùng sử dụng chung thửa đất trong nhà chung cư”. Ngoài ra Điều 145 Luật nhà ở 2014 cũng quy định rằng “Việc thế chấp nhà ở thuộc sở hữu chung phải được sự đồng ý bằng văn bản của các chủ sở hữu nhà ở thuộc sở hữu chung, trừ trường hợp thế chấp nhà ở thuộc sở hữu chung theo phần. Các chủ sở hữu nhà ở thuộc sở hữu chung hợp nhất có trách nhiệm liên đới trong việc thực hiện nghĩa vụ của bên thế chấp nhà ở theo quy định của Bộ luật dân sự”. Như vậy, người chú đã thế chấp tài sản hợp pháp với sự đồng ý của các đồng sở hữu.

Vậy các đồng thừa kế của người chết có phải liên đới trả nợ vay của người chú không? Các đồng thừa kế muốn khai di sản thừa kế được không và thủ tục như thế nào?

Nếu người chú vẫn chưa đáo hạn trả nợ ngân hàng, đến hạn thì ngân hàng sẽ thực hiện các biện pháp theo quy định pháp luật để yêu cầu người vay phải trả nợ và để đảm bảo thực hiện được việc thi hành án theo Bản án hoặc Quyết định có hiệu lực pháp luật, thì có thể sẽ kê biên, tổ chức bán đấu giá tài sản thế chấp theo quy định. Do xác định bên vay là cá nhân nên chỉ có người chú phải chịu trách nhiệm thanh toán tiền vay, những đồng sở hữu không có trách nhiệm liên đới.

Các đồng thừa kế muốn thực hiện được thủ tục khai di sản thừa kế, thì phải tất toán khoản vay trên và tiến hành xoá thế chấp, thực hiện quy trình khai nhận thừa kế theo pháp luật, nếu không có di chúc.

Hồ sơ cần chuẩn bị như sau:

+ Giấy chứng tử của người chết, giấy chứng tử của ông nội( nếu chết), Giấy đăng ký kết hôn của người chết. Giấy khai sinh của con.

+ Các giấy tờ nhân thân: Chứng minh nhân dân, Căn cước công dân hoặc hộ chiếu hoặc sổ hộ khẩu, sổ tạm trú… của người khai nhận di sản thừa kế

+  Các giấy tờ về tài sản: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và qyền sở hữu nhà ở, Thông báo lệ phí trước bạ.

Theo quy định pháp luật hiện hành, thì người từ đủ 15 tuổi đến dưới mười tám tuổi không có quyền tự mình xác lập các giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, mà phải có người đại diện theo pháp luật thực hiện thay.

Cụ thể, khoản 4 Điều 21 Bộ luật dân sự 2015 quy định như sau:

“Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý.”

Về người đại diện theo pháp luật của cá nhân, tại Điều 136 BLDS 2015 có quy định:

“1. Cha, mẹ đối với con chưa thành niên.

2. Người giám hộ đối với người được giám hộ. Người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là người đại diện theo pháp luật nếu được Tòa án chỉ định.

3. Người do Tòa án chỉ định trong trường hợp không xác định được người đại diện quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.

4. Người do Tòa án chỉ định đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.”

Như vậy, nếu không thuộc các trường hợp đặc biệt theo khoản 2,3,4 Điều 136 BLDS 2015 thì cha hoặc mẹ chính là người đại diện theo pháp luật của người con từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi.

Và phạm vi đại diện, theo quy định tại khoản 3 Điều 141 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định thì: “Một cá nhân, pháp nhân có thể đại diện cho nhiều cá nhân hoặc pháp nhân khác nhau nhưng không được nhân danh người được đại diện để xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với chính mình hoặc với bên thứ ba mà mình cũng là người đại diện với người đó, trừ pháp luật có quy định khác”.

Theo quy định trên, thì cha hoặc mẹ chỉ có thể đại diện cho con chưa thành niên để ký kết văn bản khai nhận thừa kế và nếu ký kết văn bản thoả thuận phân chia thừa kế, chỉ được ký với một tư cách, không thể ký với đồng thời 2 tư cách là người nhận di sản và người đại diện của người dưới 18 tuổi tặng cho di sản thừa kế cho chính mình.

Câu hỏi tư vấn:

Cha đứng tên đồng sử dụng QSD đất và QSH nhà ở cùng với bà nội và người chú. Người chú đã thế chấp nhà đất trên và được vay vốn ngân hàng với tư cách cá nhân. Khi cha chết thì người chú vẫn chưa đáo hạn trả nợ ngân hàng. Vậy các đồng thừa kế của người chết có phải liên đới trả nợ vay của người chú không? Các đồng thừa kế muốn khai di sản thừa kế được không và thủ tục như thế nào? Kính nhờ luật sư tư vấn giúp.

Trả lời:

Người chú đã đi thế chấp căn nhà với tư cách cá nhân và có sự đồng ý của người cha và bà nội, theo quy định tại K2 Điều 64 NĐ 43/2014: “Hợp đồng, văn bản giao dịch về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất của nhóm người sử dụng đất, nhóm chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất phải được tất cả các thành viên trong nhóm ký tên hoặc có văn bản ủy quyền theo quy định của pháp luật về dân sự, trừ trường hợp các chủ sở hữu căn hộ cùng sử dụng chung thửa đất trong nhà chung cư”. Ngoài ra Điều 145 Luật nhà ở 2014 cũng quy định rằng “Việc thế chấp nhà ở thuộc sở hữu chung phải được sự đồng ý bằng văn bản của các chủ sở hữu nhà ở thuộc sở hữu chung, trừ trường hợp thế chấp nhà ở thuộc sở hữu chung theo phần. Các chủ sở hữu nhà ở thuộc sở hữu chung hợp nhất có trách nhiệm liên đới trong việc thực hiện nghĩa vụ của bên thế chấp nhà ở theo quy định của Bộ luật dân sự”. Như vậy, người chú đã thế chấp tài sản hợp pháp với sự đồng ý của các đồng sở hữu.

Vậy các đồng thừa kế của người chết có phải liên đới trả nợ vay của người chú không? Các đồng thừa kế muốn khai di sản thừa kế được không và thủ tục như thế nào?

Nếu người chú vẫn chưa đáo hạn trả nợ ngân hàng, đến hạn thì ngân hàng sẽ thực hiện các biện pháp theo quy định pháp luật để yêu cầu người vay phải trả nợ và để đảm bảo thực hiện được việc thi hành án theo Bản án hoặc Quyết định có hiệu lực pháp luật, có thể sẽ kê biên, tổ chức bán đấu giá tài sản thế chấp theo quy định. Do xác định bên vay là cá nhân nên chỉ có người chú phải chịu trách nhiệm thanh toán tiền vay, những đồng sở hữu không có trách nhiệm liên đới.

Các đồng thừa kế muốn thực hiện được thủ tục khai di sản thừa kế, thì phải tất toán khoản vay trên và tiến hành xoá thế chấp, thực hiện quy trình khai nhận thừa kế theo pháp luật, nếu không có di chúc.

Hồ sơ cần chuẩn bị như sau:

+ Giấy chứng tử của người chết, giấy chứng tử của ông nội (nếu chết), Giấy đăng ký kết hôn của người chết. Giấy khai sinh của con.

+ Các giấy tờ nhân thân: Chứng minh nhân dân, Căn cước công dân hoặc hộ chiếu hoặc sổ hộ khẩu, sổ tạm trú… của người khai nhận di sản thừa kế

+  Các giấy tờ về tài sản: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và qyền sở hữu nhà ở, Thông báo lệ phí trước bạ.

Khi cha mẹ lập di chúc để lại tài sản, nhưng người con vì nhiều lý do không muốn nhận di sản, như: đã có cuộc sống đã đầy đủ, muốn nhường phần di sản đó cho những người khác hoặc đang định cư ở nước ngoài không có điều kiện về Việt Nam để làm thủ tục nhận di sản.

Vậy những người có tên trong di chúc có được quyền từ chối nhận di sản hay không? Hiện nay, các phòng công chứng cũng có nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này, có nơi cho rằng người đã được chỉ định trong di chúc thì không được quyền từ chối mà phải làm thủ tục nhận di sản, sau đó mới tặng cho lại các đồng thừa kế khác, nhưng cũng có một số quan điểm lại cho rằng người có tên trong di chúc vẫn được từ chối nhận di sản.

Văn phòng luật sư Lê Giang đã tiếp nhận tư vấn và giải quyết một tình huống tương tự, cụ thể khách hàng là người được cha lập di chúc để lại di sản và di chúc đó đã lập cách đây hơn 20 năm, người cha vừa qua đời được khoảng 03 năm và gia đình đang làm thủ tục khai nhận di sản, nhưng vì nay hiện đang định cư ở nước ngoài và không muốn nhận di sản nên có ý từ chối, nhưng khi đến phòng công chứng làm thủ tục thì được giải thích di chúc đã lập nhiều năm nên cần phải xem xét lại tính hiệu lực của di chúc, đồng thời cũng không được từ chối nhận di sản do đã được chỉ định hưởng di sản theo di chúc.

Vậy trong trường hợp này, người được hưởng di sản theo di chúc có được từ chối không? Trong phạm vi bài viết, chúng tôi sẽ phân tích các quy định của pháp luật nhằm giúp quý khách hàng hiểu rõ hơn về vấn đề này.

Theo quy định tại Điều 624 và Điều 640 BLDS 2015 “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết”. Như vậy, di chúc là sự thể hiện ý nguyện cuối cùng của một người nhằm chuyển giao tài sản cho người khác sau khi chết.

Tuy nhiên, sau khi lập di chúc, nếu muốn thay đổi người được hưởng di sản hoặc huỷ bỏ di chúc thì “Người lập di chúc có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc đã lập vào bất cứ lúc nào”. Trường hợp người lập di chúc không sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ thì di chúc này có hiệu lực kể từ thời điểm mở thừa kế. Do đó, cho dù di chúc đó được lập bao nhiêu năm nếu không bị sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc hủy bỏ thì di chúc đó vẫn có hiệu lực. Đồng thời, người được thừa kế theo di chúc nếu không muốn nhận di sản vẫn có quyền lập văn bản từ chối và khi đó phần di sản này sẽ được chia theo pháp luật được (điểm d, khoản 1, Điều 650 BLDS).

Trong thực tế có nhiều trường hợp những người nhận di sản thừa kế quá đông hoặc ở những nơi khác nhau, thậm chí là đang định cư ở nước ngoài. Do vậy, để thuận tiện cho việc thực hiện thủ tục khai nhận di sản thừa kế là nhà, đất đang tọa lạc tại Việt Nam, những người thừa kế thường làm văn bản từ chối nhận di sản để một người đại diện thực hiện.

Một trường hợp mà Văn phòng luật sư Lê Giang tiếp nhận, vị khách hàng trình bày hai vợ chồng có tạo lập được một căn nhà và có chung với nhau một người con duy nhất hiện đang định cư ở nước ngoài.

Nay người vợ đột ngột qua đời không để lại di chúc, cha mẹ vợ còn sống cũng đang định cư tại nước ngoài, tâm nguyện của người vợ lúc còn sống là sau này sẽ chuyển giao quyền sở hữu căn nhà cho con, nay người chồng muốn hoàn tất thủ tục khai nhận di sản thừa kế căn nhà này để cho người con đứng tên, nhưng người con đang học tập ở nước ngoài không thể về được, muốn được tư vấn và nghe ý kiến của luật sư để chọn phương hướng giải quyết tốt nhất trong trường hợp này.

Sau khi nghiên cứu quy định của pháp luật, Văn phòng luật sư đã đề xuất hướng giải quyết như sau:

Người con đang học tập ở nước ngoài lập văn bản từ chối nhận di sản thừa kế (có chứng thực của cơ quan lãnh sự Việt Nam tại nước nơi người con đang học tập), gửi về Việt Nam để người cha thực hiện thủ tục khai nhận di sản thừa kế.

Sau khi hoàn tất thủ tục khai nhận di sản và đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất, người cha có thể làm thủ tục tặng cho toàn bộ căn nhà trên cho người con khi người con có điều kiện về Việt Nam hoặc lập di chúc để lại cho người con nếu cần thiết.

Như vậy, qua tình huống trên cho thấy mặc dù phải thực hiện nhiều thủ tục hơn, nhưng với sự tư vấn của luật sư, vị khách hàng đã thực hiện được tâm nguyện của người vợ là chuyển giao toàn bộ quyền sử dụng và định đoạt căn nhà mà hai vợ chồng đã tạo lập được cho người con duy nhất của mình.

Thừa kế là một trong những chế định quan trọng liên quan đến việc xác định đối tượng được hưởng di sản do người chết để lại, được Nhà nước quy định cụ thể trong Bộ luật dân sự 2015. Về nguyên tắc, người được hưởng thừa kế theo quy định của pháp luật là những người có quan hệ huyết thống và quan hệ nhân thân với người chết như cha, mẹ, vợ, chồng, con, kể cả con nuôi, con riêng. Vậy trong trường hợp nào người con nuôi được hưởng di sản do cha mẹ nuôi để lại và phải đáp ứng các điều kiện gì?

Một trường hợp thực tế như sau: khách hàng là cháu ruột của cha mẹ nuôi, ông được nhận làm con nuôi từ khi còn nhỏ, nhưng cha mẹ nuôi lại không làm thủ tục nhận con nuôi theo quy định của pháp luật, giấy khai sinh cũng không mang họ cha nuôi hoặc mẹ nuôi, thực tế có sống chung từ khi còn nhỏ cho đến nay và ông đã được nhập vào hộ khẩu của cha mẹ nuôi, trong đó xác định có quan hệ với chủ hộ là con.

Sau khi cha mẹ nuôi chết, ông muốn làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế. Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật để chứng minh được quan hệ nuôi dưỡng giữa người con nuôi và cha mẹ nuôi thì bắt buộc phải có giấy khai sinh của người con mang họ của cha nuôi hoặc mẹ nuôi; trường hợp không có giấy khai sinh, thì phải có giấy xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về việc nhận nuôi con nuôi.

Mặc dù trong hộ khẩu có xác định là con và thực tế có sống chung nhưng chưa đủ căn cứ pháp lý để chứng minh quan hệ nuôi dưỡng, do đó không thể xác định ông là người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo quy định của pháp luật đối với di sản do cha mẹ nuôi để lại.

Trong trường hợp này, tài sản của người chết để lại sẽ được giải quyết theo hướng cho người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ hai được nhận di sản.

Qua tình huống trên cho thấy rằng, thực tế trong đời sống hàng ngày có rất nhiều sự kiện xảy ra như: nhận nuôi con, nam nữ sống chung v.v…..nhưng không phải sự kiện nào cũng được Nhà nước công nhận và bảo vệ quyền và lợi ích của các bên tham gia quan hệ đó nếu như không tuân thủ các điều kiện pháp lý tương ứng, mỗi một người dân cần có kiến thức pháp lý cơ bản để không bị mất quyền lợi hợp pháp theo quy định.

Mọi thắc mắc xin vui lòng liên hệ với chúng tôi:

VĂN PHÒNG LUẬT SƯ LÊ GIANG

Trụ sở : 47/1 Nguyễn Văn Đậu, Phường 6, Quận Bình Thạnh, TP.Hồ Chí Minh

Luật sư Lê Hoài Giang- Trưởng văn phòng: 0903 392 117 (Telephone, Zalo, Viber, …)

Email: giang.lehoai@legianglaw.vn

Web: www.legianglaw.vn  

Di chúc là một giấy tờ hợp pháp thể hiện nguyện vọng, mong muốn của một người về cách phân chia tài sản mình có được sau khi chết. Vậy làm sao để lập được một văn bản di chúc có giá trị pháp lý, được pháp luật công nhận, không bị vô hiệu? Đây là thắc mắc của khách hàng mà Legianglaw thường xuyên được đề nghị tư vấn, bài viết sau sẽ cung cấp 1 số quy định pháp luật về vấn đề này.

Để di chúc có giá trị pháp lý, cần phải đảm bảo di chúc hợp pháp. Vì vậy, trong quá trình thực hiện việc lập di chúc bằng văn bản, cần lưu ý 1 số điều cơ bản sau:

– Người lập di chúc: là người đã thành niên, người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý; không mất năng lực hành vi dân sự, phải minh mẫn, sáng suốt, không mắc bệnh tâm thần, không bị ép buộc, cưỡng chế để lập di chúc.

Nội dung bắt buộc trong di chúc: Ngày, tháng, năm lập di chúc; họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc; họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản hoặc xác định rõ các điều kiện để cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản; di sản để lại và nơi có di sản; việc chỉ định người thực hiện nghĩa vụ và nội dung của nghĩa vụ (nếu có). Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu; nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được đánh số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc.

Người làm chứng cho di chúc: Người làm chứng cho việc lập di chúc có thể bất kỳ người nào và phải là những người không có mối quan hệ thừa kế với người để lại di sản thì mới được coi là hợp pháp .

Thời điểm lập di chúc: Là thời điểm một người còn sống hoặc đang lâm bệnh nặng và có nguyện vọng để lại tài sản cho người khác sau khi chết.

Công chứng di chúc: Sau khi lập di chúc, người lập di chúc phải tuyên bố nội dung di chúc, ký và điểm chi vào di chúc trước mặt công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã. Người có thẩm quyền chứng thực hoặc công chứng viên ký chứng nhận vào bản di chúc trước mặt người lập di chúc và người làm chứng.

Hy vọng các thông tin liên quan về việc lập di chúc bằng văn bản mà chúng tôi cung cấp trên đây giúp cho người lập di chúc và người thừa kế hiểu rõ hơn về quyền lợi hợp pháp của mình.

Nếu bạn cần tư vấn chi tiết hơn về trường hợp cụ thể của bạn, vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo thông tin sau:

VĂN PHÒNG LUẬT SƯ LÊ GIANG- LEGIANGLAW

Địa chỉ: 47/1 Nguyễn Văn Đậu, Phường 6, Quận Bình Thạnh, TP.HCM, Việt Nam.

Luật sư Lê Hoài Giang- Trưởng văn phòng

Điện thoại:  0903.392.117

Website: www.legianglaw.vn

Email: giang.lehoai@legianglaw.vn

Pháp luật quy định, cá nhân nào cũng có quyền định đoạt tài sản của mình bằng cách để lại tài sản của mình qua di chúc trước khi chết.  Tuy nhiên vì nhiều lý do khác nhau mà người lập di chúc không để lại tài sản của mình cho cha, mẹ, vợ, chồng, con chưa thành niên. Để bảo vệ quyền lợi của những người có quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân gắn bó với người để lại di sản, pháp luật đã có những quy định về trường hợp những người thừa kế không có tên trong di chúc vẫn hưởng thừa kế.

Theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015, di sản của người chết để lại sẽ được chia theo di chúc hợp pháp, nếu không có di chúc hoặc di chúc không hợp lệ thì chia theo pháp luật. Tuy nhiên, dù phân chia theo di chúc hay theo pháp luật thì 4 nhóm người dưới đây được đều nhận được một phần di sản, kể cả khi không có tên trong di chúc. Điều 644 BLDS 2015 quy định cụ thể như sau:

  1. Con chưa thành niên: Trong trường hợp này, độ tuổi chưa thành niên được xác định tại thời điểm mở thừa kế tức là thời điểm người có di sản thừa kế chết.
  2. Cha/ mẹ của người để lại di sản: Cha, mẹ đẻ hoặc cha, mẹ nuôi của người để lại di sản.
  3. Vợ/ chồng của người để lại di sản: Vợ, chồng hợp pháp của người để lại di sản, theo pháp luật về hôn nhân và gia đình.
  4. Con thành niên mà không có khả năng lao động của người để lại di sản.

Như vậy, nếu không có tên trong di chúc nhưng thuộc các trường hợp kể trên thì mỗi người sẽ được hưởng phần di sản bằng 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật.

Trường hợp người để lại di chúc chỉ cho họ hưởng di sản ít hơn 2/3 của một suất thừa kế theo pháp luật, thì những đối tượng này vẫn được hưởng bằng 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật.

Tuy nhiên, nếu họ từ chối nhận di sản hoặc thuộc các trường hợp quy định tại K1 Điều 621 Bộ luật dân sự 2015 sau đây thì họ không có quyền hưởng di sản thừa kế:

  1. Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó; Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;
  2. Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;
  3. Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, huỷ di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.

Hy vọng thông tin trong bài viết trên sẽ giúp các bạn hiểu rõ hơn về quy định liên quan đến những người thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc.

Nếu  bạn còn bất cứ vấn đề gì chưa rõ, vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi để được tư vấn, giải đáp một cách cụ thể nhất

VĂN PHÒNG LUẬT SƯ LÊ GIANG- LEGIANGLAW

Địa chỉ: 47/1 Nguyễn Văn Đậu, Phường 6, Quận Bình Thạnh, TP.HCM, Việt nam.

Trưởng văn phòng: Luật sư Lê Hoài Giang

Luật sư tư vấn(Telephone, zalo, viber) : 0903.392.117-0902.268.667- 0901.85.96.83.

Website: www.legianglaw.vn

Email: giang.lehoai@legianglaw.vn

Nhằm xác định việc phân chia thừa kế cho từng trường hợp thì thời điểm và địa điểm mở thừa kế là vấn đề mà được nhiều người quan tâm hiện nay. Để nắm rõ được quy định của pháp luật về vấn đề này, bạn có thể tham khảo nội dung bài viết sau.

1. Ý nghĩa của việc xác định thời điểm và địa điểm mở thừa kế

*** Kể từ thời điểm mở thừa kế thì:

  • Người hưởng di sản thừa kế được quyền khai nhận di sản thừa kế theo di chúc.
  • Nếu người chết không để lại di chúc thì người hưởng di sản thừa kế được quyền thỏa thuận phân chia di sản thừa kế
  • Nếu việc phân chia di sản không thỏa thuận được thì người hưởng di sản thừa kế được quyền khởi kiện chia di sản thừa kế
  • Thời điểm mở thừa kế là căn cứ xác định việc khởi kiện tranh chấp còn thời hạn khởi kiện hay không.

*** Địa điểm mở thừa kế là nơi công bố việc thừa kế, kiểm kê tài sản của người để lại thừa kế và xác định toà án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về thừa kế.

2. Thời điểm mở thừa kế

Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Trong trường hợp Toà án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 71 của Bộ luật này.(Khoản 1, Bộ luật dân sự 2015).

Như vậy, theo quy định trên thì trường hợp người chết về mặt sinh học (chết thực tế) thì thời điểm mở thừa kế đối với di sản do người đó để lại là thời điểm người đó chết, thời điểm này được xác định dựa trên giấy chứng tử của người đã chết. 

Trường hợp nếu 1 người chết bị Tòa án tuyên bố chết (chết về mặt pháp lý) thì thời điểm mở thừa kế đối với di sản do người đó để lại là ngày chết của người đó xác định trong quyết định tuyên bố người đó đã chết. 

Ngoài ra, nếu không xác định được chính xác ngày chết thì ngày thì ngày quyết định của Toà án tuyên bố người đó đã chết có hiệu lực pháp luật được coi là ngày người đó chết.

3. Địa điểm mở thừa kế

Khoản 2 Điều 611 Bộ luật dân 2015 sự quy định: “Địa điểm mở thừa kế là nơi cư trú cuối cùng của người chết để lại di sản;nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng thì địa điểm mở thừa kế là nơi có toàn bộ hoặc phần lớn di sản.”

Địa điểm mở thừa kế được xác định theo đơn vị hành chính (cấp xã phường). Do đó, có thể ra ủy ban nhân dân phường nơi người để lại di sản chết để mở thừa kế.

Tuy nhiên trong thực tế, một người trước khi chết có thể ở nhiều nơi khác nhau do đó, BLDS quy đinh địa điểm mở thừa kế là nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản (có thể là nơi thường trú hoặc cũng có thể là nơi tạm trú của người để lại di sản).

Trong trường hợp không xác định được nơi cư trú cuối cùng, thì địa điểm mở thừa kế là nơi có toàn bộ hoặc phần lớn di sản.

Bộ luật dân sự quy định địa điểm mở thừa kế vì nơi đó thường phải thực hiện việc: quản lý di sản, kiểm kê di sản trong trường hợp cần thiết để ngăn chặn hành vi tẩu tán tài sản (trong trường hợp cần thiết để tránh tẩu tán tài sản), xác định những ai là người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật…

 Địa điểm mở thừa kế còn là nơi thực hiện việc thanh toán và phân chia di sản.

Ngoài ra nếu có người trong diện thừa kế từ chối nhận di sản thì phải thông báo cho cơ quan công chứng hoặc ủy ban nhân dân xã phường thị trấn nơi mở thừa kế về việc từ chối nhận di sản.

 Trên đây là nội dung tư vấn của chúng tôi về 1 số quy định pháp luật liên quan đến thời điểm và địa điểm mở thừa kế.

Nếu còn chưa rõ hoặc cần hỗ trợ các dịch vụ pháp lý khác, hãy liên lạc với Luật sư của chúng tôi theo thông tin sau:

VĂN PHÒNG LUẬT SƯ LÊ GIANG- LEGIANGLAW
Địa chỉ: 47/1 Nguyễn Văn Đậu, phường 6,  Q. Bình Thạnh, TP. HCM.

Trưởng văn phòng: Luật sư Lê Hoài Giang

Điện thoại: 0903.392.117 (Telephone, Zalo, Viber…)

Web: www.legianglaw.vn

Email: giang.lehoai@legianglaw.vn

Bà Nguyễn Thị Cúc ở Tp. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai hỏi:

Vợ chồng tôi lấy nhau đã được hơn 10 năm, do tính tình không hòa hợp, nên chúng tôi đã ly thân nhiều năm nay, nhưng do vị trí công tác, lại sợ ảnh hưởng đến việc học hành của các con nên chúng tôi không ly hôn mà thỏa thuận yêu cầu Tòa án chia tài sản chung vợ chồng. Nhưng sau đó chồng tôi đột ngột qua đời vì một tai nạn, sau khi chồng tôi mất toàn bộ số tài sản của chồng tôi do gia đình nhà chồng chiếm hữu sử dụng hết. Bản thân tôi không có quyền lợi gì. Xin cho biết trường hợp chồng tôi chết không để lại di chúc thì tôi có được quyền yêu cầu chia di sản thừa kế mà chồng tôi để lại không?

Sau đây là nội dung tư vấn của Văn phòng luật sư Lê Giang- Legianglaw:

Chào bà Nguyễn Thị Cúc, theo nội dung bà trình bày, vợ chồng bà lấy nhau được 10 năm và do tính tình không hợp nhau nên sống ly thân mà không ly hôn, và vợ chồng bà yêu cầu chia tài sản chung, nhưng sau đó chồng bà đột ngột qua đời, toàn bộ tài sản của chồng bà do nhà chồng chiếm dụng. chồng bà chết không để lại di chúc và bà hỏi bà có quyền gì hay không.

Chúng tôi xin trả lời như sau:

Căn cứ vào Điều 29 của luật HNGĐ 2000, thì khi hôn nhân còn tồn tại, vợ chồng có quyền yêu cầu tài sản chung do vợ chồng tạo lập trong thời kỳ hôn nhân. Vợ chồng bà mặc dù đã chia tài sản chung nhưng chưa ly hôn nên bà và chồng bà vẫn có quyền và nghĩa vụ đối với nhau, có nghĩa là bà có quyền hưởng di sản do chồng bà để lại. Theo quy định tại Điều 651 BLDS 2015 thì cha mẹ chồng bà, bà và các con là hàng thừa kế thứ nhất đối với di sản do chồng bà chết để lại.

Bà có thể thương lượng với nhà chồng bà để bà và các con được hưởng phần di sản thừa kế từ chồng bà, trong trường hợp không thương lượng được bà có quyền khởi kiện để yêu cầu tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Hy vọng nội dung trên đây giúp bà làm rõ được những thắc mắc của bà.  Hãy liên hệ với chúng tôi nếu bạn cần tư vấn, hỗ trợ vấn đề cụ thể hơn:

VĂN PHÒNG LUẬT SƯ LÊ GIANG-LEGIANGLAW
 

47/1 Nguyễn Văn Đậu, Phường 6, Quận Bình Thạnh, Tp.HCM, VN

Trưởng văn phòng: Luật sư Lê Hoài Giang

Luật sư tư vấn Phone/Viber/Zalo: 0903.392.117- 0902.268.667- 0901.85 96 83

Web: www.legianglaw.vn
Email: giang.lehoai@legianglaw.vn