Do đặc thù của một số công việc phải làm việc theo nhóm hoặc theo từng dự án, mà người sử dụng lao động phải điều chuyển người lao động sang làm một công việc khác so với thỏa thuận ban đầu trong hợp đồng lao động. Mặc dù luật lao động cũng trao quyền cho người sử dụng lao động, nhưng một số doanh nghiệp lại thực hiện không đúng dẫn đến xảy ra tranh chấp giữa người lao động và người sử dụng lao động.

Theo quy định tại Điều 29 BLLĐ 2019, khi gặp khó khăn đột xuất do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, áp dụng biện pháp ngăn ngừa, khắc phục tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, sự cố điện, nước hoặc do nhu cầu sản xuất, kinh doanh thì người sử dụng lao động được quyền tạm thời chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động nhưng không được quá 60 ngày làm việc cộng dồn trong 01 năm; trường hợp chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động quá 60 ngày làm việc cộng dồn trong 01 năm thì chỉ được  thực hiện khi người lao động đồng ý bằng văn bản.

Nếu trường hợp chuyển người lao động sang làm công việc khác do nhu cầu sản xuất, kinh doanh, thì người sử dụng lao động phải quy định cụ thể trong nội quy lao động những trường hợp nào do nhu cầu sản xuất, kinh doanh mà người sử dụng lao động được tạm thời chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động.

Khi tạm thời chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động, người sử dụng lao động  phải báo cho người lao động biết trước ít nhất 03 ngày làm việc, thông báo rõ thời hạn làm tạm thời và bố trí công việc phù hợp với sức khỏe, giới tính của người lao động.

Người lao động chuyển sang làm công việc khác so với hợp đồng lao động được trả lương theo công việc mới. Nếu tiền lương của công việc mới thấp hơn tiền lương của công việc cũ thì được giữ nguyên tiền lương của công việc cũ trong thời hạn 30 ngày làm việc. Tiền lương theo công việc mới ít nhất phải bằng 85% tiền lương của công việc cũ nhưng không thấp hơn mức lương tối thiểu.

Nội dung bài viết có tính chất tham khảo, để được tư vấn kỹ hơn cho trường hợp cụ thể của bạn, vui lòng liên hệ với chúng tôi.

VĂN PHÒNG LUẬT SƯ LÊ GIANG

Trụ sở : 47/1 Nguyễn Văn Đậu, Phường 6, Quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh ☎ 

Luật sư Lê Hoài Giang- Trưởng văn phòng: 0903 392 117 (Telephone, Zalo, Viber, Facetime…)  

Email: giang.lehoai@legianglaw.com 

www.legianglaw.vn  

Theo quy định của Bộ luật lao động 2012 khi người lao động  hoặc người sử dụng lao động muốn đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn, thì phải có nghĩa vụ báo trước, nếu vi phạm nghĩa vụ báo trước thì bên vi phạm phải bồi thường một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước cho bên kia.

Tuy nhiên, nay theo quy định của Bộ luật lao động số: 45/2019/QH14 ngày 20/11/2019, có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2021, có một số trường hợp khi đơn phương chấm dứt hợp đồng người lao động và người sử dụng lao động không cần phải báo trước thời gian, cụ thể:

  1. Đối với người sử dụng lao động:

a) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày hết thời hạn tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động.

b) Người lao động tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên

  • Đối với người lao động:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc theo thỏa thuận;

b) Không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn;

c) Bị người sử dụng lao động ngược đãi, đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ, hành vi làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự; bị cưỡng bức lao động;

d) Bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc;

đ) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc;

e) Đủ tuổi nghỉ hưu;

g) Người sử dụng lao động cung cấp thông tin không trung thực làm ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng lao động.

Như vậy, hiện nay BLLĐ năm 2019 đã quy định theo hướng chủ động, đảm bảo quyền lợi cho cả đôi bên trong quan hệ lao động, khi một bên không thực hiện đúng cam kết đã thỏa thuận thì có quyền chủ động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không cần phải báo trước.

Để biết thêm thông tin chi tiết, vui lòng liên hệ với chúng tôi để được tư vấn cụ thể hơn đối với tình huống pháp lý mà khách hàng đang gặp phải. Chúng tôi luôn hỗ trợ và đồng hành cùng Quý khách hàng. 

VĂN PHÒNG LUẬT SƯ LÊ GIANG

Địa chỉ: 47/1 Nguyễn Văn Đậu, Phường 6, Quận Bình Thạnh, TP.HCM, Việt Nam.

Luật sư tư vấn(Telephone, zalo, viber) : 0903.392.117-0902.268.667-
0901.85.96.83.

Website: www.legianglaw.vn

Email: giang.lehoai@legianglaw.vn

Đối với mỗi doanh nghiệp, việc tuyển dụng và quản lý nhân sự là khâu không thể thiếu trong quá trình vận hành sản xuất kinh doanh, quyết định sự phát triển của doanh nghiệp.Tuy nhiên, hiện nay đa số các doanh nghiệp thường không chú trọng nhiều đến vấn đề tuyển dụng, sử dụng và thực hiện các chế độ chính sách theo quy định của pháp luật. Đặc biệt, sa thải lao động là một trong những hình thức kỷ luật nặng nhất mà pháp luật cho phép người sử dụng lao động được quyền áp dụng. Tuy nhiên việc sa thải này ảnh hưởng rất lớn đến đời sống người lao động. Do đó cần nắm chắc những thông tin quy định pháp luật liên quan về vấn đề này.  

I. Doanh nghiệp được áp dụng hình thức kỷ luật sa thải đối với người lao động có vi phạm trong các trường hợp sau:

1. Người lao động có hành vi trộm cắp, tham ô, đánh bạc, cố ý gây thương tích, sử dụng ma túy tại nơi làm việc;

2. Người lao động có hành vi tiết lộ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động, có hành vi gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe dọa gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của người sử dụng lao động hoặc quấy rối tình dục tại nơi làm việc được quy định trong nội quy lao động;

3. Người lao động bị xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương hoặc cách chức mà tái phạm trong thời gian chưa xóa kỷ luật. Tái phạm là trường hợp người lao động lặp lại hành vi vi phạm đã bị xử lý kỷ luật mà chưa được xóa kỷ luật theo quy định;

4. Người lao động tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong thời hạn 30 ngày hoặc 20 ngày cộng dồn trong thời hạn 365 ngày tính từ ngày đầu tiên tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng.

Ngoài những trường hợp trên, người sử dụng lao động không được áp dụng hình thức sa thải đối với người lao động.

II. Bên cạnh đó, khi tiến hành sa thải lao động, người sử dụng lao động cần lưu ý:

1. Phải còn trong thời hiệu: 06 tháng kể từ ngày xảy ra hành vi vi phạm pháp luật.Trường hợp hành vi vi phạm liên quan trực tiếp đến tài chính, tài sản, tiết lộ bí mật công nghệ, bí mật kinh doanh của người sử dụng lao động thì thời hiệu xử lý kỷ luật lao động là 12 tháng.

2. Không được xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động đang trong thời gian sau đây:

a) Nghỉ ốm đau, điều dưỡng; nghỉ việc được sự đồng ý của người sử dụng lao động;

b) Đang bị tạm giữ, tạm giam;

c) Đang chờ kết quả của cơ quan có thẩm quyền điều tra xác minh và kết luận đối với hành vi vi phạm được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 125 của Bộ luật laođộng;

d) Người lao động nữ mang thai; người lao động nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

3. Không xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động vi phạm kỷ luật lao động trong khi mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình.

Trên đây là thông tin cơ bản về kỷ luật lao động theo hình thức sa thải. Nếu  bạn còn bất cứ vấn đề gì chưa rõ, vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi để được tư vấn, giải đáp một cách cụ thể nhất. Chúng tôi luôn đồng hành cùng Quý khách hàng để giải quyết những vướng mắc về mặt pháp lý.

VĂN PHÒNG LUẬT SƯ LÊ GIANG- LEGIANGLAW

Địa chỉ: 47/1 Nguyễn Văn Đậu, Phường 6, Quận Bình Thạnh, TP.HCM, Việt Nam.

Luật sư Lê Hoài Giang- Trưởng văn phòng

Tel:  0903.392.117

Email: giang.lehoai@legianglaw.vn

Web: www.legianglaw.vn

Ông Nguyễn Phương Toàn ở quận 12, Tp. Hồ Chí Minh hỏi:

Tôi làm việc ở công ty được 3 năm và đã ký hợp đồng không xác định thời hạn.Vậy giờ tôi nghỉ việc mà không báo trước thời hạn 45 ngày thì tôi phải bồi thường thiệt hại bao nhiêu tiền.Mức lương hiện tại tôi đang hưởng là 4,6tr chưa kể các khoản phụ cấp khác.

Trả lời:

Cảm ơn ông đã gửi câu hỏi cần tư vấn đến Văn phòng luật sư Lê Giang, chúng tôi xin tư vấn trường hợp của ông như sau:

Tại khoản 3, Điều 37 BLLĐ_2013 :  Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này (tức trường hợp đối với lao động nữ mang thai thì thời gian báo trước tuỳ thuộc vào thời hạn do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền chỉ định). Như vậy ông nghỉ việc mà không tuân thủ thời gian báo trước là đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật theo quy định tại Điều 41 BLLĐ.

Tại khoản 2 Điều 43 BLLĐ_2013 về Nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

Nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

Như vậy theo quy định trên, ông phải bồi thường số tiền tương đương với 45 ngày không báo trước cho công ty căn cứ vào tiền lương ông thực lĩnh một ngày và nhân với 45 ngày.

Thân chào ông.

Câu trả lời này có tính chất tham khảo, để được tư vấn kỹ hơn cho trường hợp cụ thể của bạn, vui lòng liên hệ với chúng tôi.

VĂN PHÒNG LUẬT SƯ LÊ GIANG với hơn 13 năm kinh nghiệm có thể tư vấn đến quý vị về nhiều vấn đề pháp lý đa dạng liên quan. Đặc biệt, lĩnh vực ĐẤT ĐAI, THỪA KẾ, VẤN ĐỀ TÀI SẢN CÓ LIÊN QUAN ĐẾN NGƯỜI VIỆT NAM ĐỊNH CƯ NƯỚC NGOÀI…là các dịch vụ pháp lý nổi bật của Văn phòng chúng tôi.

VĂN PHÒNG LUẬT SƯ LÊ GIANG

☎

Trụ sở : 47/1 Nguyễn Văn Đậu, Phường 6, Quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh  

Luật sư Lê Hoài Giang- Trưởng văn phòng: 0903 392 117 (Telephone, Zalo, Viber, Facetime…)  

Email: lsgiangle@gmail.com 

www.legianglaw.vn