Trong một số trường hợp người chồng/vợ đang ở nước ngoài muốn ly hôn với người vợ/chồng đang ở tại Việt Nam nhưng không có điều kiện để về Việt Nam trực tiếp thực hiện, người ở nước ngoài có thể đơn phương nộp đơn ly hôn tại tòa án Việt Nam thông qua người đại diện mà không cần phải về Việt Nam và trong trường hợp sẽ được tòa xử vắng mặt theo các thủ tục sau:

Bước 1: Người nước ngoài phải chuẩn bị các tài liệu sau

– Viết đơn khởi kiện ly hôn, trong đó phải trình bày rõ được lý do yêu cầu ly hôn, yêu cầu về việc nuôi dưỡng con chung và phân chia tài sản chung (nếu có); kèm theo đơn kiện phải nộp bản chính giấy đăng ký kết hôn, bản sao y passport, giấy khai sinh con, giấy tờ chứng minh quyền sở hữu tài sản (nếu có); bản sao căn cước công dân và hộ khẩu của người chồng/vợ tại Việt Nam.

– Viết đơn đề nghị tòa án hòa giải và xét xử vắng mặt, trong đó cam kết không tranh chấp, khiếu nại gì về sau đối với kết quả xét xử của tòa án.

– Lập giấy ủy quyền cho người thân hoặc luật sư tại Việt Nam để đại diện nộp đơn khởi kiện và nhận các văn bản tống đạt của tòa án, nộp tạm ứng án phí.

– Lập bản tự khai về nội dung khởi kiện, yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn.

Bước 2: Mang toàn bộ đơn khởi kiện, đơn đề nghị xét xử vắng mặt, giấy ủy quyền; bản tự khai ra Đại sứ quán hoặc lãnh sự quán Việt Nam tại nước nơi đang sinh sống để chứng nhận lãnh sự.

Bước 3: Gửi toàn bộ hồ sơ đã chuẩn bị về Việt Nam để người thân hoặc luật sư đại diện nộp tại tòa án theo thủ tục ly hôn với người đang ở nước ngoài.

Một điểm cần lưu ý nếu người chồng/vợ đang ở nước ngoài đã thay đổi họ, tên so với giấy đăng ký kết hôn, thì phải gửi kèm theo giấy xác nhận đổi họ, tên. Riêng đối với các loại giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp thì phải được hợp pháp hóa lãnh sự và dịch sang tiếng việt.

VĂN PHÒNG LUẬT SƯ LÊ GIANG

Trụ sở : 47/1 Nguyễn Văn Đậu, Phường 6, Quận Bình Thạnh, TP.Hồ Chí Minh

Luật sư Lê Hoài Giang- Trưởng văn phòng: 0903 392 117 (Telephone, Zalo, Viber, …)

Email: giang.lehoai@legianglaw.vn

Web: www.legianglaw.vn  

Hiện nay quan hệ hôn nhân giữa người Việt và người nước ngoài không còn là điều xa lạ. Do có sự khác biệt về văn hóa, phong tục tập quán nên nhiều cặp vợ chồng không thể dung hòa được cuộc sống dẫn đến đỗ vỡ hôn nhân là một điều không thể tránh khỏi. Khi người Việt Nam muốn ly hôn thì người ở nước ngoài không chịu ly hôn hoặc không hợp tác, cố tình cắt đứt liên lạc để gây khó dễ cho người ở Việt Nam. Vậy để giải quyết ly hôn được với người đang ở nước ngoài thì cần phải thực hiện thủ tục như thế nào? Tòa án nào có thẩm quyền thụ lý và giải quyết? . Đây là tình huống mà Văn phòng luật sư Lê Giang đã tiếp nhận và tư vấn cho các khách hàng là nữ đã kết hôn với người nước ngoài, giờ mong muốn ly hôn nhưng người chồng lại không có ở Việt Nam.

Để giúp khách hàng có cái nhìn tổng quan, trong bài viết này chúng tôi chia sẽ thông tin về thủ tục ly hôn giữa công dân Việt Nam đang cư trú tại Việt Nam với người đang ở nước ngoài theo quy định của pháp luật hiện hành.

Thủ tục ly hôn với người đang ở nước ngoài trong trường hợp đơn phương ly hôn gồm các bước sau:

Bước 1: Vợ hoặc chồng nộp hồ sơ khởi kiện về việc xin ly hôn đơn phương tại TAND cấp tỉnh/thành phố nơi đang cư trú. Hồ sơ kèm theo đơn khởi kiện gồm: bản chính giấy đăng ký kết hôn, bản sao có chứng thực chứng minh nhân dân hộ khẩu; sản sao giấy khai sinh của con.

Bước 2: Tòa án sẽ thụ lý giải quyết vụ án và sẽ ra thông báo nộp tiền tạm ứng án phí cho người đã nộp đơn;

Bước 3: Căn cứ thông báo của Tòa án đương sự nộp tiền tạm ứng án phí và nộp lại biên lai tiền tạm ứng án phí cho Tòa án;

Bước 4: Tòa án thụ lý vụ án, tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục ly hôn đơn phương chung và ra Bản án hoặc Quyết định giải quyết vụ án.

Điều trở ngại trong việc công dân Việt Nam ly hôn với người nước ngoài là việc tòa án tống đạt các giấy tờ cho đương sự ở nước ngoài. Do đó, điểm cần đặc biệt lưu ý khi làm thủ tục ly hôn, người nộp đơn phải cung cấp chính xác họ tên, địa chỉ của người ở nước ngoài để tòa án thực hiện thủ tục tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng của tòa án, lấy ý kiến về nội dung đơn ly hôn, yêu cầu cung cấp chứng cứ..v.v…. Nếu địa chỉ ở nước ngoài không chính xác, thì việc giải quyết ly hôn sẽ gặp nhiều trở ngại do mất nhiều thời gian xác minh và thậm chí phải đình chỉ giải quyết vụ án do không nhận được ý kiến, tài liệu, chứng cứ của đương sự ở nước ngoài cung cấp.

VĂN PHÒNG LUẬT SƯ LÊ GIANG

Trụ sở : 47/1 Nguyễn Văn Đậu, Phường 6, Quận Bình Thạnh, TP.Hồ Chí Minh

Luật sư Lê Hoài Giang- Trưởng văn phòng: 0903 392 117 (Telephone, Zalo, Viber, …)

Email: giang.lehoai@legianglaw.vn

Web: www.legianglaw.vn  

Chia tài sản chung là một trong những vấn đề mà nhiều cặp vợ chồng quan tâm khi ly hôn.

Nhưng thực tế, rất nhiều người chỉ yêu cầu tòa án giải quyết để được ly hôn, riêng tài sản hai bên sẽ thỏa thuận chia sau.

Một tình huống thực tế có vướng mắc về thuế thu nhập cá nhân khi chia tài sản sau ly hôn, nhưng chọn sai phương thức chuyển giao tài sản, mà khách hàng phải tìm đến sự tư vấn của luật sư: hai vợ chồng đã ly hôn cách đây một năm nhưng chưa thỏa thuận chia tài sản vì lúc đó còn một số nợ chưa trả xong. Đến nay đã tất toán xong khoản nợ, vợ chồng thỏa thuận toàn bộ căn nhà mà hai vợ chồng tạo lập trong thời kỳ hôn nhân, người chồng sẽ chuyển giao cho người vợ được trọn quyền sử dụng, định đoạt vì người vợ đang là người trực tiếp nuôi dưỡng người con chung chưa thành niên.

Hai người đã ra phòng công chứng lập hợp đồng, chồng tặng cho 50% giá trị căn nhà cho vợ. Người vợ nộp hồ sơ vào UBND quận để hoàn tất thủ tục đăng ký sang tên quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng nhà đất, sau đó chị có nhận được thông báo của cơ quan thuế về việc đóng thuế thu nhập cá nhân 10% đối với phần nhà đất chị được tặng, với số tiền thuế khá lớn, vượt quá khả năng tài chính của chị.

Chị rất hoang mang vì chị biết rằng giữa 2 vợ chồng tặng cho với nhau thì không phải đóng thuế thu nhập cá nhân.

Theo quy định pháp luật thì trường hợp này cơ quan thuế yêu cầu chị thực hiện nghĩa vụ đóng thuế thu nhập cá nhân là đúng, vì tại thời điểm người chồng làm thủ tục tặng cho 50% căn nhà cho chị, quan hệ vợ chồng của chị đã chấm dứt theo bản án, quyết định ly hôn của tòa án, không còn là vợ chồng nên không thuộc trường hợp được miễn thuế thu nhập cá nhân.

Tuy nhiên, vẫn có cách để khắc phục sai xót trên và luật sư đã tư vấn để chị rút toàn bộ hồ sơ về, đồng thời cùng chồng cũ hủy hợp đồng tặng cho và lập lại văn bản khác bằng hình thức ký kết văn bản thoả thuận phân chia tài sản sau thời kỳ hôn nhân để được miễn thuế thu nhập cá nhân. Sau đó, nộp lại hồ sơ để hoàn tất thủ tục sang tên cho chị theo quy định.  

Việc tưởng chừng như đơn giản, nhưng nếu không có sự tư vấn pháp lý kịp thời, thì không những không  được hưởng quyền lợi theo quy định pháp luật mà phải gánh chịu thiệt hại sẽ rất lớn về tài chính.

Cần tư vấn chi tiết hơn hoặc cần hỗ trợ thực hiện các thủ tục pháp lý, vui lòng liên hệ với chúng tôi:

VĂN PHÒNG LUẬT SƯ LÊ GIANG

Địa chỉ: 47/1 Nguyễn Văn Đậu, Phường 6, Quận Bình Thạnh, TP.HCM, Việt nam.

Luật sư tư vấn(Telephone, zalo, viber) : 0903.392.117-0902.268.667-
0901.85.96.83.

Website: www.legianglaw.vn

Email: giang.lehoai@legianglaw.vn

Bà Nguyễn Thị Cúc ở Tp. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai hỏi:

Vợ chồng tôi lấy nhau đã được hơn 10 năm, do tính tình không hòa hợp, nên chúng tôi đã ly thân nhiều năm nay, nhưng do vị trí công tác, lại sợ ảnh hưởng đến việc học hành của các con nên chúng tôi không ly hôn mà thỏa thuận yêu cầu Tòa án chia tài sản chung vợ chồng. Nhưng sau đó chồng tôi đột ngột qua đời vì một tai nạn, sau khi chồng tôi mất toàn bộ số tài sản của chồng tôi do gia đình nhà chồng chiếm hữu sử dụng hết. Bản thân tôi không có quyền lợi gì. Xin cho biết trường hợp chồng tôi chết không để lại di chúc thì tôi có được quyền yêu cầu chia di sản thừa kế mà chồng tôi để lại không?

Sau đây là nội dung tư vấn của Văn phòng luật sư Lê Giang- Legianglaw:

Chào bà Nguyễn Thị Cúc, theo nội dung bà trình bày, vợ chồng bà lấy nhau được 10 năm và do tính tình không hợp nhau nên sống ly thân mà không ly hôn, và vợ chồng bà yêu cầu chia tài sản chung, nhưng sau đó chồng bà đột ngột qua đời, toàn bộ tài sản của chồng bà do nhà chồng chiếm dụng. chồng bà chết không để lại di chúc và bà hỏi bà có quyền gì hay không.

Chúng tôi xin trả lời như sau:

Căn cứ vào Điều 29 của luật HNGĐ 2000, thì khi hôn nhân còn tồn tại, vợ chồng có quyền yêu cầu tài sản chung do vợ chồng tạo lập trong thời kỳ hôn nhân. Vợ chồng bà mặc dù đã chia tài sản chung nhưng chưa ly hôn nên bà và chồng bà vẫn có quyền và nghĩa vụ đối với nhau, có nghĩa là bà có quyền hưởng di sản do chồng bà để lại. Theo quy định tại Điều 651 BLDS 2015 thì cha mẹ chồng bà, bà và các con là hàng thừa kế thứ nhất đối với di sản do chồng bà chết để lại.

Bà có thể thương lượng với nhà chồng bà để bà và các con được hưởng phần di sản thừa kế từ chồng bà, trong trường hợp không thương lượng được bà có quyền khởi kiện để yêu cầu tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Hy vọng nội dung trên đây giúp bà làm rõ được những thắc mắc của bà.  Hãy liên hệ với chúng tôi nếu bạn cần tư vấn, hỗ trợ vấn đề cụ thể hơn:

VĂN PHÒNG LUẬT SƯ LÊ GIANG-LEGIANGLAW
 

47/1 Nguyễn Văn Đậu, Phường 6, Quận Bình Thạnh, Tp.HCM, VN

Trưởng văn phòng: Luật sư Lê Hoài Giang

Luật sư tư vấn Phone/Viber/Zalo: 0903.392.117- 0902.268.667- 0901.85 96 83

Web: www.legianglaw.vn
Email: giang.lehoai@legianglaw.vn

Chiều tàn, thấp thoáng xa xa có 2 người lớn tuổi đèo nhau trên chiếc xe máy cũ, sau khi nhìn từng văn phòng luật sư (nơi đây có 5 vpls), thì thấy tay của cô hướng về vp mình, và mình được chọn cho một cuộc gặp trễ. Dù đã ngồi yên trên ghế, nghe luật sư nhỏ nhẹ hỏi: con giúp được gì cho cô (do người chồng ngồi xa quan sát thôi), nhưng tay cô vẫn run run, nhấp nhỏm và ánh mắt đượm buồn, mãi chưa thốt được thành lời. Luật sư thầm nghĩ: không biết có phải là tình huống gì đó quá đặc biệt để hai người già phải đi tìm trợ giúp, Và tình huống đặc biệt thật: cô muốn hỏi việc ly hôn cho con gái (đang nằm ở cữ nuôi con không thể ra ngoài được), sau khi đã bình tĩnh thì toàn bộ câu chuyện được tuôn ra, trong nỗi buồn đau của người mẹ khi chứng kiến hoàn cảnh không hạnh phúc của cô con gái, trong nỗi ấm ức thắc mắc khi anh con rể buông lời: không có chữ ký của tôi thì không ly hôn được.Dù đã tiếp xúc với rất nhiều vụ ly hôn, biết cách khai thác những thông tin cần thiết, nhưng hôm nay, chỉ lặng im nghe và nghe, không muốn dẫn dắt câu chuyện cho bớt lê thê vì mình hiểu được nỗi đau của người mẹ, niềm phân vân không biết tính sao khi con gái đang phải nuôi con thơ mà phải đối đầu với nghịch cảnh hôn nhân.Ngoài 02 ý kiến pháp lý:1. Người vợ (hoặc người chồng) có quyền đơn phương đứng đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn mà không cần chữ ký của người còn lại.2. Nếu vợ đang nuôi con dưới 12 tháng thì người chồng k có quyền nộp đơn ly hôn nhưng người vợ lại có quyền này.Mình còn làm tròn vai trò tư vấn tâm lý, giúp ổn định tinh thần cho thân chủ, cứ lắng nghe, chia sẻ và không vội kết luận việc gì có liên quan đến ly hôn hay không, chỉ cố gắng giúp người mẹ thêm tinh thần và sáng suốt để bảo vệ và vỗ về con, cháu. Quyết định sau cùng không cần ngay lập tức, và mình tin sau cuộc gặp gỡ này, sẽ có những hy vọng cho một cuộc đoàn tụ ấm áp và người mẹ luôn hiểu mình sẽ nên làm gì tốt nhất cho con.Sài Gòn những ngày cuối năm nhiều tất bật, mình vui với những việc hữu ích nho nhỏ hàng ngày mà mình với vai trò luật sư đã giúp cho các bên đều vui vẻ.

Pháp luật trở nên mềm mại đáng yêu khi người áp dụng có niềm tin về sự tha thứ, về sự yêu thương!

VĂN PHÒNG LUẬT SƯ LÊ GIANG- LEGIANGLAW

Địa chỉ: 47/1 Nguyễn Văn Đậu, Phường 6, Quận Bình Thạnh, TP.HCM, Việt Nam.

Trưởng văn phòng: Luật sư Lê Hoài Giang

Điện thoại: 0903.392.117

Email: giang.lehoai@legianglaw.vn

Website: www.legianglaw.vn

Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ hôn nhân do Tòa án quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc của chồng hoặc cả hai vợ chồng, hủy bỏ các trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm của hôn nhân và các ràng buộc dân sự khác.Trong trường hợp đang hoặc đã ly hôn rồi, người chồng mất thì người vợ có được yêu cầu hưởng thừa kế của chồng không? bài viết sẽ đề cập đến các trường hợp xảy ra theo quy định pháp luật cho vấn đề này như sau:

1. Đang trong giai đoạn tiến hành thủ tục ly hôn

Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình :Quan hệ hôn nhân chỉ chấm dứt vào ngày bản án, quyết định ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Nghĩa là thời điểm đang tiến hành làm thủ tục ly hôn quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng vẫn còn tồn tại, vẫn là vợ chồng hợp pháp.

Do đó khi một trong hai người chết trong thời gian hai vợ chồng đang tiến hành thủ tục ly hôn và bản án hoặc quyết định ly hôn của Tòa chưa có hiệu lực pháp luật thì quan hệ thừa kế vẫn phát sinh, người còn sống vẫn được hưởng thừa kế. (quy định tại Điều 655 Bộ luật dân sự 2015).

2. Người chồng mất có để lại di chúc chỉ định người vợ được hưởng tài sản.

Di chúc là ý chí, ý nguyện cuối cùng của một người , định đoạt tài sản của người đó sau khi chết cho người khác. Do đó nếu người chồng chết mà có để lại di chúc trong đó chỉ định người vợ được hưởng tài sản thì căn cứ vào phần di sản được phân trong di chúc mà người vợ  sẽ được hưởng.

Tuy nhiên, theo quy định về pháp luật thừa kế thì di chúc được coi là hợp pháp phải đủ các điều kiện sau:

  • Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép;
  • Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật.
  • Về hình thức của di chúc: Di chúc phải được lập thành văn bản, nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng.

Như vậy, khi đã ly hôn rồi thì người vợ chỉ được hưởng di sản thừa kế của người chống nếu được người chồng phân chia và được chỉ định trong di chúc và di chúc này phải có hiệu lực pháp luật.

3. Khi đã kết hôn với người khác  

Ngoài ra, cũng tại Điều 655 Bộ luật dân sự 2015 quy định: Người đang là vợ hoặc chồng của một người tại thời điểm người đó chết thì dù sau đó có kết hôn với người khác vẫn được thừa kế di sản.

Bởi lẽ thời điểm người chồng cũ chết, quan hệ hôn nhân giữa hai người vẫn tồn tại. Do đó, khi người chồng chết,người vợ vẫn thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người để lại di sản thừa kế.

4. Được hưởng thừa kế từ con chung với chồng cũ

Nếu trường hợp người chồng cũ chết trước và con chung của hai vợ chồng chết sau thì người vợ cũ cũng là 1 đồng thừa kế di sản cùng với những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người con sẽ được hưởng phần di sản thừa kế mà lẽ ra người này được hưởng từ bố.

Di sản của đứa con sẽ được chia đều cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất. Những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất bao gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết. Người vợ cũ trong trường hợp này là hàng thừa kế thứ nhất của đứa con với chồng cũ . Do đó người vợ cũ có quyền hưởng di sản thừa kế do chồng cũ để lại.

Như vậy, đối với từng trường hợp cụ thể như đã nêu ở trên mà người vợ cũ có quyền được hưởng thừa kế từ chồng cũ để lại theo quy định của pháp luật hiện hành.

Trên đây là nội dung tư vấn của Văn phòng luật sư Lê Giang.
Nếu  bạn còn bất cứ vấn đề gì chưa rõ, vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi để được tư vấn, giải đáp một cách cụ thể nhất.

VĂN PHÒNG LUẬT SƯ LÊ GIANG- LEGIANGLAW

Trụ sở: 47/1 Nguyễn Văn Đậu, Phường 6, Quận Bình Thạnh, TP.HCM, Việt Nam.

Luật sư Lê Hoài Giang: 0903.392.117

Email: lsgiangle@gmail.com

Website: legianglaw.vn

Bà Nguyễn Thị Mai Hạnh ở huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai gửi yêu cầu cần tư vấn đến Văn phòng luật sư Lê Giang như sau:

Sau khi ba mẹ chồng mất có để lại cho chồng tôi một căn hộ chung cư, giấy tờ đều mang tên chồng tôi. Sau này tôi phát hiện chồng tôi ngoại tình, không chỉ có thế, anh ta đã con con riêng với bồ, và còn sang tên căn hộ chung cư đó cho cô ta. Nay tôi ly hôn, con trai tôi mới được 6 tuổi, bé ở với tôi thì tôi có thể đòi lại căn hộ đó hay không?

Văn phòng luật sư Lê Giang cám ơn bà đã tin tưởng luật sư của chúng tôi. Câu hỏi của bà sẽ được giải đáp như sau:

Tại Điều 33 Luật HNGĐ 2014 về tài sản chung của vợ chồng

Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

Theo thông tin mà bà cung cấp thì cha mẹ chồng bà chết để lại thừa kế cho chồng bà một căn hộ chung cư và đứng tên một mình chồng cha, như vậy chung cư này được xác định là tài sản chồng bà được thừa kế riêng trong thời kỳ hôn nhân. Chồng bà có quyền định đoạt tài sản riêng này, bà không có quyền đòi lại căn hộ chung cư khi ly hôn.

Khi ly hôn bà có quyền yêu cầu chia tài sản chung mà hai vợ chồng bà tạo lập trong thời kỳ hôn nhân và yêu cầu chồng bà cấp dưỡng để nuôi con chung chưa thành niên (mới 6 tuổi) đến tuổi trưởng thành.

Thân chào bà.

Cần tư vấn chi tiết hơn hoặc cần hỗ trợ thực hiện các thủ tục pháp lý, vui lòng liên hệ với chúng tôi:

VĂN PHÒNG LUẬT SƯ LÊ GIANG

Địa chỉ: 47/1 Nguyễn Văn Đậu, Phường 6, Quận Bình Thạnh, TP.HCM, Việt nam.

Luật sư tư vấn(Telephone, zalo, viber) : 0903.392.117-0902.268.667-
0901.85.96.83.

Website: legianglaw.vn
Email: lsgiangle@gmail.com

Bất cứ ai khi yêu, kết hôn đều mong muốn cuộc sống của mình an yên, hạnh phúc. Dẫu vậy, vì những bất đồng quan điểm, những mâu thuẫn trong cuộc sống hằng ngày nhiều cặp vợ chồng đã phải kết thúc bằng tờ giấy ly hôn. Thế nhưng, cũng có những người ly hôn được 1 thời gian thì quyết định chung sống lại với nhau để cùng chăm sóc con cái. Vậy khi đó, những vấn đề pháp lý  liên quan nào có thể xảy ra?

Văn phòng luật sư Lê Giang xin chia sẽ một trường hợp cụ thể mà Văn phòng luật Lê Giang đã gặp và tư vấn cho khách hàng:

 Ông Đoàn Quốc Hùng ở phường Linh Đông, quận Thủ Đức, Tp. Hồ Chí Minh hỏi: Vợ chồng tôi kết hôn được 7 năm, có 1 con chung được 6 tuổi. Tuy nhiên, cuộc sống gia đình không hạnh phúc, vợ chồng hay mâu thuẫn nên chúng tôi ly hôn, có quyết định của tòa án. Ly hôn một thời gian, chúng tôi nhận thấy việc cha mẹ chia tay làm cho con gái chúng tôi bị ảnh hưởng tâm lý nghiêm trọng. Vừa qua chúng tôi quyết định về sống chung với nhau để con có đủ cha, đủ mẹ nhưng chúng tôi lại ngại đi làm giấy kết hôn. Cho tôi hỏi, chúng tôi có thể về sống chung với nhau được không, chúng tôi có gặp trở ngại gì không, có bị phạt không?

Trả lời:

Chào ông Hùng theo ông trình bày thì vợ chồng ông kết hôn được 7 năm  và có 1 con chung được 6 tuổi, nhưng do cuộc sống không hạnh phúc nên vợ chồng ông đã ly hôn và đã có quyết định giải quyết của tòa án. Như vậy kể từ ngày vợ chồng ông được tòa án cho ly hôn thì quan hệ giữa ông và vợ đã chấm dứt.

Tuy nhiên, do mong muốn con nhận đủ được tình cảm của cha mẹ nên ông và vợ đã quyết định về sống chung nhưng không đăng ký kết hôn. Ông hỏi việc ông và vợ sống chung như vậy có được không, tôi xin trả lời việc ông và vợ về sống chung là việc tốt cho sự phát triển của con chung mà không trái quy định của pháp luật và đạo đức xã hội, vì tại thời điểm ông và vợ quyết định về sống chung đều đang trong tình trạng độc thân, chưa có đăng ký kết hôn hay sống chung như vợ chồng với ai .

Tuy nhiên, tôi khuyên ông và vợ nên đi đăng ký kết hôn để đảm bảo quyền và nghĩa vụ của đôi bên trong quan hệ hôn nhân và con chung,  vì nếu ông và vợ sống chung mà không đăng ký kết hôn thì không được công nhận là vợ chồng, trong quá trình chung sống có thể phát sinh nhiều vấn đề pháp lý liên quan đến tài sản, con cái và các vấn đề liên quan đến quyền nhân thân về sau.

Ông nên sớm liên hệ với UBND xã, phường nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của một trong 2 bên để làm thủ tục đăng ký kết hôn, vì thủ tục đăng ký kết hôn hiện nay quy định rất đơn giản và nhanh chóng, không mất nhiều thời gian.

——————————————————————

Để được tư vấn cụ thể về trường hợp của bạn, hãy liên lạc với Luật sư của chúng tôi để được hỗ trợ:

Văn phòng luật sư Lê Giang
Địa chỉ: 47/1 Nguyễn Văn Đậu, phường 6,  Q. Bình Thạnh, TP. HCM.
Điện thoại: 028 6672 6117   

Trưởng văn phòng: Luật sư Lê Hoài Giang

Điện thoại:0903.392.117 (Telephone, Zalo, Viber…)

Email: lsgiangle@gmail.com

www.legianglaw.com.vn

Ông Trần Văn Bình ở xã An Bình, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương hỏi:

Tôi và vợ lấy nhau đã được 5 năm đã có với nhau 1 bé gái 4 tuổi và vợ tôi đang mang thai bé thứ 2 được 5 tháng tuổi. Nhưng hiện nay vợ chồng tôi không thể tiếp tục chung sống với nhau nữa và vợ tôi là người làm đơn yêu cầu ly hôn và trong đơn tôi không thấy ghi tình trạng vợ tôi đang trong qúa trình mang thai bé thứ hai, chỉ đề cập đến bé 4 tuổi, vợ tôi nói bé thứ hai chưa chào đời nên không cần đề cập đến trong đơn. Như vậy có đúng hay không? Bé thứ 2 sinh ra sau khi vợ chồng tôi ly hôn thì bé có được mang họ của tôi hay không?

Trả lời:

Luật sư Nguyễn Thị Huệ- Văn phòng l uật sư Lê Giang xin trả lời vấn đề này như sau:

Theo quy định tại Điều 88LHNGĐ 2015 về xác định cha, mẹ

 Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng. Như vậy con do vợ ông đang mang thaitrong thời kỳ hôn nhân nên được xác định là con chung. Do đó nếu con ông được sinh ra sau khi có bản án hoặc quyết định của tòa cho vợ chồng ông ly hôn thì vẫn được xác định là con chung.

Theo quy định tại Điều 26 BLDS về Quyền có họ, tên Họ của cá nhân được xác định là họ của cha đẻ hoặc họ của mẹ đẻ theo thỏa thuận của cha mẹ; nếu không có thỏa thuận thì họ của con được xác định theo tập quán. Như vậy con ông sinh ra sau ly hôn có thể mang họ ông hoặc họ của vợ ông, nếu ông và vợ ông có thỏa thuận, nếu không có thỏa thuận thì con sinh ra sau khi ly hôn vẫn mang họ của ông.Ông cũng phải có

trách nhiệm cùng chăm sóc, nuôi dưỡng con sinh ra sau ly hôn cho đến khi đến tuổi trưởng thành.

Thân chào ông.

Văn phòng luật sư Lê Giang

47/1 Nguyễn Văn Đậu, Phường 6, Quận Bình Thạnh, TP.HCM

Luật sư tư vấn: 0903.392.117- 0902.268.667