Khi định cư nước ngoài, có nhiều gia đình chỉ còn giữ một bản sao giấy khai sinh duy nhất, chỉ dùng được một lần, không thể sao y và cũng không còn bản chính để sao y. Những trường hợp đã đăng ký khai sinh (cả khai tử, kết hôn) trước 01/01/2026 mà sổ hộ tịch và bản chính giấy tờ bị mất hết, thì có quyền đăng ký lại, ngay cả khi đang định cư tại nước ngoài.

Thủ tục được thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi đã đăng ký khai sinh trước đây. Trường hợp trước đây đăng ký tại Ủy ban nhân dân cấp xã thì đăng ký lại tại Ủy ban nhân cấp huyện cấp trên thực hiện. Trường hợp trước đây đăng ký tại Ủy ban nhân dân cấp tỉnh/Sở tư pháp thì đăng ký lại tại Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi có trụ sở hiện nay của Sở tư pháp.

Điều kiện đăng ký lại khai sinh

  • Đã được đăng ký khai sinh tại Cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam trước ngày 01/01/2016.
  • Sổ hộ tịch và bản chính giấy tờ hộ tịch đều bị mất;
  • Nộp đầy đủ bản sao giấy tờ, tài liệu có nội dung liên quan đến việc đăng ký lại.
  • Người yêu cầu đăng ký lại khai sinh phải còn sống vào thời điểm tiếp nhận hồ sơ.

Thành phần hồ sơ chi tiết như sau:

  1. Tờ khai theo mẫu quy định, trong đó có cam đoan của người yêu cầu về việc đã đăng ký khai sinh nhưng người đó không lưu giữ được bản chính Giấy khai sinh;
  2. Bản sao toàn bộ hồ sơ, giấy tờ của người yêu cầu hoặc hồ sơ, giấy tờ, tài liệu khác trong đó có các thông tin liên quan đến nội dung khai sinh của người yêu cầu, gồm:
  3. Bản sao Giấy khai sinh do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp (bản sao được công chứng, chứng thực hợp lệ, bản sao được cấp từ Sổ đăng ký khai sinh);
  4. Bản chính hoặc bản sao giấy tờ có giá trị thay thế Giấy khai sinh được cấp trước năm 1945 ở miền Bắc và trước năm 1975 ở miền Nam.

 Trường hợp người yêu cầu đăng ký lại khai sinh không có giấy tờ quy định như nêu trên, thì giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp hợp lệ sau đây là cơ sở để xác định nội dung đăng ký lại khai sinh:

  • Giấy chứng minh nhân dân, Thẻ căn cước công dân hoặc Hộ chiếu;
  • Sổ hộ khẩu, Sổ tạm trú, giấy tờ chứng minh về nơi cư trú;
  • Bằng tốt nghiệp, Giấy chứng nhận, Chứng chỉ, Học bạ, Hồ sơ học tập do cơ quan đào tạo, quản lý giáo dục có thẩm quyền cấp hoặc xác nhận;
  • Giấy tờ khác có thông tin về họ, chữ đệm, tên, ngày, tháng, năm sinh của cá nhân;
  • Giấy tờ chứng minh quan hệ cha con, mẹ con.

Thời hạn giải quyết

Trong vòng 05 ngày làm việc, kể từ ngày Phòng Tư pháp – Ủy ban nhân dân cấp huyện nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Trường hợp phải có văn bản xác minh thì thời hạn giải quyết không quá 13 ngày làm việc.

Nội dung của Giấy khai sinh cấp lại

Nội dung của Giấy khai sinh cấp lại được xác định theo Bản sao Giấy khai sinh trước đây được cấp hợp lệ. Trường hợp người yêu cầu không có bản sao Giấy khai sinh nhưng hồ sơ, giấy tờ cá nhân có sự thống nhất về nội dung khai sinh thì đăng ký lại theo nội dung đó. Nếu hồ sơ, giấy tờ không thống nhất về nội dung khai sinh thì nội dung khai sinh được xác định theo hồ sơ, giấy tờ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp chính thức hợp lệ đầu tiên.

Mọi thắc mắc hoặc cần hỗ trợ pháp lý vui lòng liên lạc Legalaw để được tư vấn

E-mail: giang.lehoai@legianglaw.vn. Điện thoại:  0903392117.

Ngoài trường hợp chấm dứt quan hệ hôn nhân do ly hôn, thì một trong những lý do mà hôn nhân vợ chồng được cho là tự động chấm dứt, đó là vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết.

1. Thời điểm chấm dứt hôn nhân

Hôn nhân sẽ chấm dứt do vợ, chồng chết, được tính kể từ thời điểm vợ, chồng chết.

Nếu Tòa án tuyên bố vợ hoặc chồng là đã chết, thì thời điểm hôn nhân chấm dứt được xác định theo ngày chết được ghi trong bản án, quyết định của Tòa án.

2. Giải quyết tài sản của vợ, chồng

Trường hợp cả vợ và chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì tài sản của vợ, chồng được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế, các đồng thừa kế sẽ tiến hành khai thừa kế theo pháp luật và chuyển tài sản từ người chết qua các đồng thừa kế.

Trong trường hợp chỉ một bên vợ hoặc chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì tài sản của vợ chồng được giải quyết như sau:

– Khi chỉ có một bên vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết, thì bên còn sống quản lý tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp trong di chúc có chỉ định người khác quản lý di sản hoặc những người thừa kế thỏa thuận cử người khác quản lý di sản.

Khi có yêu cầu về chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác trong thỏa thuận về chế độ tài sản. Phần tài sản của vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế.

Trong trường hợp việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của vợ hoặc chồng còn sống, gia đình thì vợ, chồng có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế phân chia di sản theo quy định của Bộ luật dân sự.

Tài sản của vợ chồng trong kinh doanh được giải quyết phương thức trên, trừ trường hợp pháp luật về kinh doanh có quy định khác.

Giải quyết vấn đề khi vợ, chồng bị tuyên bố là đã chết trở về

Đối với quan hệ nhân thân:

Khi có Quyết định hủy bỏ tuyên bố một người là đã chết, và vợ hoặc chồng của người đó chưa kết hôn với người khác, thì quan hệ hôn nhân được khôi phục kể từ thời điểm kết hôn.

Trường hợp Toà án đã giải quyết việc ly hôn theo yêu cầu của một bên, thì quyết định cho ly hôn vẫn có hiệu lực pháp luật.

Trường hợp sau khi tuyên bố một người đã chết, thì nếu vợ hoặc chồng của người đó đã kết hôn với người khác thì quan hệ hôn nhân được xác lập sau có hiệu lực pháp luật.

Đối với quan hệ tài sản:

Phần quan hệ tài sản của người bị tuyên bố là đã chết trở,sau đó về với người vợ hoặc chồng thì được giải quyết như sau:

– Trong trường hợp hôn nhân được khôi phục thì quan hệ tài sản được khôi phục kể từ thời điểm quyết định của Tòa án hủy bỏ tuyên bố chồng, vợ là đã chết có hiệu lực. Nhưng tài sản do vợ, chồng có được kể từ thời điểm quyết định của Tòa án về việc tuyên bố vợ, chồng là đã chết có hiệu lực đến khi quyết định hủy bỏ tuyên bố vợ, chồng là đã chết có hiệu lực là tài sản riêng của người đó.

– Trong trường hợp quan hệ hôn nhân không được khôi phục, thì tài sản có được trước khi quyết định của Tòa án về việc tuyên bố vợ, chồng là đã chết có hiệu lực mà chưa chia được thì sẽ giải quyết như chia tài sản khi ly hôn.

Về nguyên tắc và lẽ thông thường, khi quan hệ hôn nhân còn tồn tại, thì tài sản chung của vợ chồng vẫn còn tồn tại, ít khi có việc hai bên muốn phân chia khối tài sản riêng biệt cho từng bên. Tuy nhiên, trong thực tế vẫn có nhiều cặp vợ chồng muốn phân định rõ ràng tài sản của mỗi người, bởi vợ chồng có mẫu thuẫn trong quản lý tài chính hoặc để thuận lợi cho công việc chung nhưng chỉ cần một bên giao dịch, định đoạt và còn vì nhiều lý do khác. Theo quy định của Luật hôn nhân năm 2014, thì cả hai bên đều có quyền thỏa thuận phân chia tài sản chung.

Nguyên tắc phân chia tài sản chung của vợ chồng được quy định như sau:

– Vợ, chồng tự thỏa thuận phân chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung;

– Vợ, chồng có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết nếu như cả hai không đồng thuận quyết định việc phân chia.

Thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân có hình thức bắt buộc là phải lập thành văn bản và được công chứng chứng nhận hoặc theo quy định của pháp luật.

Theo quy định tại Điều 39 Luật hôn nhân và gia đình 2014, việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, hiệu lực của thoả thuận sẽ được xác định theo từng trường hợp như sau:

– Trường hợp hai bên có thỏa thuận, thì thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung của vợ chồng là thời điểm dohai bên thỏa thuận và phải được ghi nhận trong văn bản; nếu không xác định thời điểm có hiệu lực trong văn bản, thì thời điểm có hiệu lực được tính từ ngày lập văn bản;

– Trường hợp tài sản được chia mà theo quy định của pháp luật, giao dịch liên quan đến tài sản đó phải tuân theo hình thức nhất định thì việc chia tài sản chung của vợ chồng có hiệu lực từ thời điểm việc thỏa thuận tuân thủ hình thức mà pháp luật quy định;

– Trường hợp Tòa án phân chia tài sản chung của vợ chồng, thì việc phân chia này có hiệu lực kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực.

Riêng quyền và nghĩa vụ về tài sản giữa vợ, chồng với người thứ ba phát sinh trước thời điểm việc chia tài sản chung có hiệu lực vẫn có giá trị pháp lý, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

Hậu quả của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

Sau khi chia tài sản chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân thì tài sản được chia, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của mỗi bên sẽ là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ, chồng có thỏa thuận khác hoặc có việc nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung, phần tài sản còn lại không chia vẫn là tài sản chung của vợ chồng.

Việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân không làm chấm dứt chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định.

Chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

Vợ chồng có quyền thỏa thuận chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung, và hình thức thỏa thuận của chấm dứt hiệu lực của việc phân chia tài sản bắt buộc là văn bản và được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật.

Kể từ ngày thỏa thuận chấm dứt hiệu lực việc chia tài sản chung có hiệu lực thì việc xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng được thực hiện theo quy định tại Điều 33, Điều 43 Luật hôn nhân và gia đình 2014. Phần tài sản đã được chia vẫn thuộc sở hữu riêng của vợ chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

Tuy nhiên,việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân sẽ bị vô hiệu khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

  1. Việc chia tài sản chung của vợ chồng ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của gia đình; quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình;
  2. Nhằm trốn tránh thực hiện các nghĩa vụ:

– Nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng;

– Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại;

– Nghĩa vụ thanh toán khi bị Tòa án tuyên bố phá sản;

– Nghĩa vụ trả nợ cho cá nhân, tổ chức;

– Nghĩa vụ nộp thuế hoặc nghĩa vụ tài chính khác đối với nhà nước;

– Nghĩa vụ khác về tài sản theo quy định của Luật nầy, Bộ luật dân sự và quy định khác của pháp luật có liên quan.

Tại các đô thị lớn hiện nay ở Việt Nam, các giao dịch mua bán căn hộ chung cư rất phổ biến và thực tế khi mua bán, thì người mua thường làm việc với bên thứ 3 (thường gọi là đơn vị phát triển dự án, bao tiêu sản phẩm) chứ không phải chủ đầu tư. Vậy chủ đầu tư có được ủy quyền cho đơn vị khác để ký kết hợp đồng đặt cọc hoặc mua bán nhà ở chung cư hay không ?

Chiếu theo quy định tại khoản 8 điều 6 Luật nhà ở 2014.

                 Điều 6. Các hành vi bị nghiêm cấm.

      8. Chủ đầu tư dự án xây dựng nhà ở ủy quyền hoặc giao cho bên tham gia hợp tác đầu tư, liên doanh, liên kết, hợp tác kinh doanh, góp vốn hoặc tổ chức, cá nhân khác thực hiện ký hợp đồng cho thuê, thuê mua, mua bán nhà ở, hợp đồng đặt cọc các giao dịch về nhà ở hoặc kinh doanh quyền sử dụng đất trong dự án.

     Như vậy, rõ ràng chủ đầu tư không được phép ủy quyền (hoặc thực hiện hành vi có tên gọi khác nhưng bản chất vẫn là việc uỷ quyền) cho bên thứ ba ký hợp đồng đặt cọc hoặc hợp đồng mua bán chung cư với khách hàng vì đã vi phạm Khoản 6 Liều 8 luật nhà ờ 2014 và hành vi vi phạm pháp luật này có thể bị phạt từ 400.000.000 đến 600.000.000 đồng theo quy định tại Điểm e Khoản 5 Điều 58 NĐ 16/2020/NĐ-CP.

 *Một số lưu ý khi mua bán chung cư.

1. Tìm hiểu kĩ về chủ đầu tư có uy tín không để tránh mua phải dự án “ma”.
2. Khi mua chung cư sẽ được ngân hàng bảo lãnh, và chủ đầu tư gửi cho khách hàng một thư bảo lãnh

3. Khi không được gặp chủ đầu tư mà gặp đơn vị phát triển dự án thì khách hàng phải yêu cầu họ đưa được giấy ủy quyền tìm kiếm khách hàng, giới thiệu hoặc ủy quyền giữ chỗ,  chứ không được ký hợp đồng mua bán.

Bên cạnh quan hệ hôn nhân chấm dứt do ly hôn, còn có trường hợp chấm dứt do vợ hoặc chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết.

1. Thời điểm chấm dứt hôn nhân

Hôn nhân sẽ chấm dứt do vợ, chồng chết, được tính kể từ thời điểm vợ, chồng chết.

Nếu Tòa án tuyên bố vợ hoặc chồng là đã chết, thì thời điểm hôn nhân chấm dứt được xác định theo ngày chết được ghi trong bản án, quyết định của Tòa án.

2. Giải quyết tài sản của vợ, chồng

Trường hợp cả vợ và chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì tài sản của vợ, chồng được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế, các đồng thừa kế sẽ tiến hành khai thừa kế theo pháp luật và chuyển tài sản từ người chết qua các đồng thừa kế.

Trong trường hợp chỉ một bên vợ hoặc chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì tài sản của vợ chồng được giải quyết như sau:

– Khi chỉ có một bên vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết, thì bên còn sống quản lý tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp trong di chúc có chỉ định người khác quản lý di sản hoặc những người thừa kế thỏa thuận cử người khác quản lý di sản.

Khi có yêu cầu về chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác trong thỏa thuận về chế độ tài sản. Phần tài sản của vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế.

Trong trường hợp việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của vợ hoặc chồng còn sống, gia đình thì vợ, chồng có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế phân chia di sản theo quy định của Bộ luật dân sự.

Tài sản của vợ chồng trong kinh doanh được giải quyết theo phương thức trên, trừ trường hợp pháp luật về kinh doanh có quy định khác.

Giải quyết vấn đề khi vợ, chồng bị tuyên bố là đã chết trở về

Đối với quan hệ nhân thân:

Khi có Quyết định hủy bỏ tuyên bố một người là đã chết, và vợ hoặc chồng của người đó chưa kết hôn với người khác, thì quan hệ hôn nhân được khôi phục kể từ thời điểm kết hôn. Trường hợp Toà án đã giải quyết việc ly hôn theo yêu cầu của một bên, thì quyết định cho ly hôn vẫn có hiệu lực pháp luật.

Việc chăm sóc nuôi dưỡng con chung chưa thành niên là vấn đề được nhiều người lưu tâm khi quyết định ly hôn.  Khi giải quyết cho ly hôn, tòa án sẽ quyết định giao cho cha hoặc mẹ trực tiếp nuôi dưỡng. Tuy nhiên, sau khi có bản án ly hôn vì nhiều lí do khác nhau mà người được tòa án giao quyền nuôi con không còn đủ điều kiện nuôi dưỡng hoặc không thực hiện tròn trách nhiệm của người nuôi dưỡng nhất là khi người đó lập gia đình mới, vậy người còn lại có được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hay không sau khi bản án, quyết định cho ly hôn của tòa án đã có hiệu lực pháp luật.

          Theo quy định tại Điều 84 Luật HN&GĐ, việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Như vậy, người không được tòa án giao quyền trực tiếp nuôi con có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi quyền nuôi con khi người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện xét ở các yếu tố sau:

Yếu tố vật chất:  như điều kiện ăn ở, học tập, vui chơi, chăm sóc sức khỏe khi con ốm đau… Các điều kiện này được xác định chủ yếu dựa trên thu nhập thực tế, chỗ ở hợp pháp, tài sản của người đang trực tiếp nuôi dưỡng con.

Yếu tố tinh thần: như thời gian trực tiếp chăm sóc, giáo dục con (chứng minh thông qua tính chất công việc, thời gian làm việc…); tình cảm của cha, mẹ đối với con trong quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; điều kiện cho con vui chơi, hoàn thiện nhân cách; nhân cách của người trực tiếp nuôi con… Yêu cầu thay đổi này vẫn tuỳ thuộc vào việc xem xét, thẩm tra và xét xử của Hội đồng xét xử, thủ tục và thời gian vẫn phải tuân thủ quy định pháp luật, việc tranh chấp quyền nuôi con đôi khi gây ảnh hưởng xấu đến tâm lý của con trẻ.

Quan hệ hôn nhân có thể chấm dứt khi hai vợ chồng cùng đồng thuận yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn hoặc một bên vợ, chồng đơn phương yêu cầu tòa án giải quyết cho ly hôn khi tình trạng hôn nhân trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được hoặc có bạo lực gia đình.

Đối với trường hợp đơn phương ly hôn, theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình vợ hoặc chồng đều có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn nếu nhận thấy không thể kéo dài cuộc sống chung. Nhưng có phải tất cả các trường hợp đơn phương ly hôn và có lý do chính đáng đều được tòa án giải quyết cho ly hôn nay không? Để Quý khách hàng hiểu rõ quy định này, chúng tôi thông tin cụ thể như sau:

Theo quy định pháp luật hiện hành, người chồng bị giới hạn quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Như vậy, đơn yêu cầu ly hôn của người chồng chỉ được chấp nhận khi không thuộc một trong các trường hợp trên.

Mục đích của việc kết hôn là xây dựng một gia đình hạnh phúc, vợ chồng cùng chung sống và nuôi dạy con cái đến tuổi trưởng thành. Tuy nhiên, không phải gia đình nào cũng đạt được đích đến như mong muốn, mà trong quá trình chung sống vì nhiều nguyên nhân mà phải chấm dứt quan hệ hôn nhân.

Hậu quả của việc ly hôn là các con chưa thành niên chỉ được sống với cha hoặc với mẹ. Vấn đề trách nhiệm của cha mẹ trong việc chăm sóc những đứa con chưa thành niên thì được giải quyết như thế nào.

Theo quy định của Luật HN&GĐ, vợ, chồng có quyền thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Như vậy, về nguyên tắc, việc nuôi con khi ly hôn trước hết do các bên thỏa thuận. Nếu không thỏa thuận được thì có thể yêu cầu Tòa án giải quyết, con dưới 36 tháng tuổi sẽ giao cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng. Tuy nhiên, để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho con, Tòa án sẽ xem xét các yếu tố khác để đưa ra quyết định sẽ giao con cho ai nuôi dưỡng như:

– Điều kiện về vật chất: Thu nhập, tài sản, chỗ ở có đáp ứng được nhu cầu tối thiểu về ăn, ở, sinh hoạt, điều kiện học tập của con.

– Điều kiện về tinh thần bao gồm: thời gian chăm sóc, dạy dỗ, giáo dục con, tình cảm đã dành cho con từ trước tới nay, điều kiện cho con vui chơi giải trí, nhân cách đạo đức, môi trường sống.

Do đó, không phải tất cả trường hợp con dưới 36 tháng tuổi khi ly hôn mẹ sẽ được nuôi, nếu mẹ không đủ điều kiện, thì con sẽ được giao cho cha nuôi dưỡng.

Hiện nay, tỷ lệ các cặp vợ chồng trẻ có đơn yêu cầu ly hôn ngày càng gia tăng. Tuy nhiên, trong số đó không ít trường hợp lý do yêu cầu ly hôn chưa chính đáng hoặc chỉ một phút nóng giận nhất thời mà vợ hoặc chồng nộp đơn yêu cầu ly hôn. Trong trường hợp này, tòa án thường bác đơn xin ly hôn để hai vợ chồng có thời gian hàn gắn, giải quyết mâu thuẫn gia đình.

Như vậy, nếu bị tòa án bác đơn xin ly hôn, nhưng sau đó một bên vợ hoặc chồng vẫn muốn ly hôn thì có được nộp đơn lại hay không?  Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi thông tin chi tiết về vấn đề này như sau:

Mặc dù pháp luật tố tụng dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình không quy định nhưng tại mục c, điểm 10 Nghị quyết số 02/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao có hướng dẫn. Theo đó, trường hợp tòa án đã bác đơn xin ly hôn thì người bị bác đơn không được kiện lại trong thời hạn một năm. Sau một năm kể từ ngày bản án, quyết định của tòa án bác đơn xin ly hôn có hiệu lực pháp luật, người có đơn xin ly hôn mà bị tòa án bác mới có quyền khởi kiện lại.

Hiện nay có rất nhiều trường hợp vợ hoặc chồng xác lập tài sản bằng tiền riêng của mình hoặc do để thuận tiện hơn trong các giao dịch về sau khi một bên vợ hoặc chồng đi làm ăn xa hoặc đang định cư ở nước ngoài. Do đó, khi tài sản là bất động sản được xác lập trong thời kỳ hôn nhân, đa phần các cặp vợ chồng đều thỏa thuận để một người đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất bằng cách xác lập văn bản thỏa thuận tài sản riêng của vợ/chồng trong thời kỳ hôn nhân. Vậy thời điểm xác lập văn bản này được thực hiện khi nào, trước hay sau khi ký hợp đồng mua bán nhà đất. Đây là vấn đề pháp lý được nhiều người quan tâm vì nhiều trường hợp bị cơ quan đăng ký đất đai không chấp nhận văn bản thỏa thuận tài sản riêng do thực hiện không đúng.

Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi mong muốn chia sẻ kinh nghiệm thực tế đối với trường hợp này khi thực hiện thủ tục đăng bộ sang tên tại cơ quan đăng ký đất đai.

Văn bản thỏa thuận tài sản riêng của vợ/chồng có thể được ký cùng thời điểm với việc ký hợp đồng mua bán nhà đất hoặc ký sau khi xác lập hợp đồng mua bán thì mới được xem là hợp pháp, vì theo quy định của pháp luật cơ sở để xác lập quyền sở hữu đối với tài sản là các bằng chứng chứng minh thời điểm xác lập tài sản đó – hợp đồng mua bán. Như vậy, sau khi xác lập tài sản bằng chứng từ mua bán, thì mới có cơ sở để vợ chồng xác lập Văn bản thỏa thuận tài sản riêng của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.