Cùng với sự phát triển nhanh của công nghệ thông tin, các ngân hàng ngày càng có nhiều dịch vụ được thực hiện bằng hình thức trực tuyến mà chủ tài khoản không cần phải đến ngân hàng, tiết kiệm được thời gian, nhanh chóng, tiện lợi. Tuy nhiên, đi cùng với các tiện ích thì trong quá trình giao dịch cũng xảy ra một số trường hợp sai sót, dẫn đến phát sinh nhiều vấn đề pháp lý có liên quan mà khách hàng và chính ngân hàng không thể giải quyết được.

Thực tế trong quá trình giải quyết vụ việc chuyển tiền nhầm qua giao dịch ebanking, tuy cùng một tình huống, cũng có sự hỗ trợ từ văn phòng luật sư, nhưng lại có cách giải quyết khác nhau:

1. Trong trường hợp người chuyển tiền có được thông tin và tự liên hệ với người nhận nhầm tiền, người này không hợp tác, nhưng nếu Ngân hàng hỗ trợ liên lạc và làm việc được với người nhận nhầm và người này tự nguyện trả lại thì vụ việc giải quyết xong .

2. Trong trường hợp khách hàng chuyển nhầm tiền đã liên lạc với người nhận nhầm hoặc ngân hàng đã hỗ trợ liên lạc nhưng người này vẫn không hợp tác, thì luật sư sẽ hỗ trợ để đề nghị cơ quan công an nơi người nhận nhầm có tài khoản xử lý theo quy định và thường thời gian để được hoàn tiền lại sẽ lâu hơn.

3. Một trường hợp hi hữu khác: Người nhận nhầm là giám đốc của một công ty TNHH và đã chết, lúc này không đơn giản là nhờ ngân hàng hỗ trợ hay đề nghị cơ quan công an xử lý, mà số tiền này đã trở thành di sản thừa kế và buộc phải giải quyết thừa kế theo pháp luật. Trường hợp này người chuyển nhầm tiền phải làm thủ tục yêu cầu ngân hàng nơi nhận tiền phong tỏa tài khoản cho đến khi hoàn tất thủ tục khai thừa kế theo quy định của pháp luật.

Trên đây là những tình huống điển hình mà văn phòng luật sư đã hỗ trợ có kết quả tốt đẹp cho khách hàng.

Trong thực tế cuộc sống có rất nhiều trường hợp một người gây thiệt hại cho người khác trong trạng thái không có khả năng nhận thức về hành vi của mình, vậy những thiệt hại gây ra cho người bị hại ai là người chịu trách nhiệm bồi thường?

Theo quy định của BLDS những trường hợp sau đây buộc phải có người giám hộ:

– Người chưa thành niên không còn cha, mẹ hoặc không xác định được cha, mẹ;

– Người chưa thành niên có cha, mẹ nhưng cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự; cha, mẹ đều có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; cha, mẹ đều bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; cha, mẹ đều bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền đối với con; cha, mẹ đều không có điều kiện chăm sóc, giáo dục con và có yêu cầu người giám hộ;

– Người mất năng lực hành vi dân sự;

– Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

Vậy người giám hộ chịu trách nhiệm đến đâu đối với những thiệt hại do người được giám hộ gây ra ?

Tại khoản 3 Điều 586 BLDS 2015 người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản của bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình ra để bồi thường.

Như vậy, phạm vi trách nhiệm của người giám hộ đối với những thiệt hại do người được giám hộ gây ra chỉ khi người giám hộ có lỗi trong việc giám hộ dẫn đến  người được giám hộ gây thiệt hại cho người khác. Nếu người giám hộ chứng minh được thiệt hại xảy ra không do lỗi của mình thì dù người được giám hộ không có tài sản hoặc có tài sản nhưng không đủ để bồi thường, thì người giám hộ cũng không có nghĩa vụ dùng tài sản của mình ra để bồi thường thiệt hại do người được giám hộ gây ra.