1- In thư phỏng vấn trực tiếp từ email mà NVC gửi. Chỉ cần in 2 trang đầu tiên (có thông tin thời gian phỏng vấn và tên các đương đơn), số lượng từ 2 đến 3 bản vì thư phỏng vấn sẽ sử dụng nhiều lần: chích ngừa, khám sức khoẻ và khi đi phỏng vấn chính thức.

2- Liên lạc với người bảo lãnh bên Mỹ về bộ hồ sơ thuế mới nhất. Nếu ngày phỏng vấn sau ngày 15/4 hằng năm thì bắt buộc khi phỏng vấn đương đơn phải mang theo hồ sơ thuế năm vừa rồi của người bảo trợ chính và/hoặc người đồng bảo trợ. Ngoài ra, PHẢI CÓ CHỮ KÝ SỐNG của người bảo trợ chính (trên I-864) và người đồng bảo trợ (trên I-864A). Nếu người đồng bảo trợ có chồng/vợ thì trong I-864A phải có chữ ký sống của cả 2 vợ chồng.

3- Thời hạn của Lý Lịch Tư Pháp (LLTP) số 2 là 12 tháng nhưng nếu tính đến ngày phỏng vấn mà LLTP vẫn còn khoảng 2-3 tháng thì cũng vẫn phải làm mới. Có thể làm LLTP tại Sở tư pháp hoặc Trung tâm lý lịch TP quốc gia- Hà nội. Thời gian lúc trước khi lịch visa đáo hạn hồ sơ khoảng 1 tháng đi làm lại là vừa, không nhất thiết phải chờ có thư phỏng vấn mới đi làm.

4- Nên đi chích ngừa trước và khám sức khoẻ sau vì sau khi chích ngừa sẽ nhận được tờ xác nhận chích ngừa MÀU VÀNG và sẽ nộp tờ màu vàng này cho nơi khám sức khoẻ (IOM hoặc Chợ Rẫy) để hoàn tất hồ sơ sức khoẻ. Phí chích ngừa khoảng trên dưới 1 triệu đồng mỗi người (tuỳ chỉ định của bác sĩ sau khi xét nghiệm máu). Phí khám sức khoẻ áp dụng cho cả IOM và Chợ Rẫy là $215 cho mỗi người từ 15 tuổi trở lên và $132 cho mỗi người từ 15 tuổi trở xuống (nhận thanh toán bằng cả VN Đồng và Đôla Mỹ).

+ Tại IOM: thư phỏng vấn + passport

+ Tại Chợ Rẫy: thư phỏng vấn + passport

–> KHÔNG cần đem theo hình thẻ khi khám sức khoẻ tại IOM hoặc Chợ Rẫy, đương đơn sẽ được chụp trực tiếp tại nơi làm hồ sơ, trước khi đóng phí khám.

+ Chích ngừa: thư phỏng vấn + passport + hồ sơ đã chích ngừa lúc trước (nếu có)

5- KHÔNG DỊCH THUẬT bất kỳ loại giấy tờ nào. Bản sao Hộ Khẩu và CMND của các đương đơn cũng không cần phải sao y công chứng, LSQ chỉ yêu cầu bảng copy là được.

6- Nếu hồ sơ có xin cứu xét CSPA thì thời điểm tốt nhất để xin khiếu nại với LSQ là 10 ngày trước ngày phỏng vấn

7- KHÔNG NÊN dùng hình thẻ 5×5 đã nộp cho NVC để nộp cho LSQ trong ngày phỏng vấn. Hình phải được chụp trong vòng 6 tháng (tốt nhất là vừa nhận thư phỏng vấn thì chụp lại ngay) và khác với hình đã nộp cho NVC. Lưu ý là khi chụp hình 5×5 KHÔNG ĐƯỢC ĐEO KÍNH.

8- Sau khi phỏng vấn và nhận visa, nên đóng phí thẻ xanh trước khi nhập cảnh Mỹ để có thể rút ngắn thời gian chời đợi sau khi đến Mỹ. Trung bình nếu đóng thẻ xanh trước khi nhập cảnh Mỹ thì thời gian nhận thẻ xanh sẽ sau khoảng 6 tuần. Nếu sau thời gian này mà vẫn chưa nhận được thẻ xanh thì mọi người cần liên lạc với Sở Di Trú USCIS để biết về tình trạng thẻ xanh.

Câu hỏi tư vấn:

Cha đứng tên đồng sử dụng QSD đất và QSH nhà ở cùng với bà nội và người chú. Người chú đã thế chấp nhà đất trên và được vay vốn ngân hàng với tư cách cá nhân. Khi cha chết thì người chú vẫn chưa đáo hạn trả nợ ngân hàng. Vậy các đồng thừa kế của người chết có phải liên đới trả nợ vay của người chú không? Các đồng thừa kế muốn khai di sản thừa kế  được không và thủ tục như thế nào? Kính nhờ luật sư tư vấn giúp.

Trả lời:

Người chú đã đi thế chấp căn nhà với tư cách cá nhân và có sự đồng ý của người cha và bà nội, theo quy định tại K2 Điều 64 NĐ 43/2014: “Hợp đồng, văn bản giao dịch về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất của nhóm người sử dụng đất, nhóm chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất phải được tất cả các thành viên trong nhóm ký tên hoặc có văn bản ủy quyền theo quy định của pháp luật về dân sự, trừ trường hợp các chủ sở hữu căn hộ cùng sử dụng chung thửa đất trong nhà chung cư”. Ngoài ra Điều 145 Luật nhà ở 2014 cũng quy định rằng “Việc thế chấp nhà ở thuộc sở hữu chung phải được sự đồng ý bằng văn bản của các chủ sở hữu nhà ở thuộc sở hữu chung, trừ trường hợp thế chấp nhà ở thuộc sở hữu chung theo phần. Các chủ sở hữu nhà ở thuộc sở hữu chung hợp nhất có trách nhiệm liên đới trong việc thực hiện nghĩa vụ của bên thế chấp nhà ở theo quy định của Bộ luật dân sự”. Như vậy, người chú đã thế chấp tài sản hợp pháp với sự đồng ý của các đồng sở hữu.

Vậy các đồng thừa kế của người chết có phải liên đới trả nợ vay của người chú không? Các đồng thừa kế muốn khai di sản thừa kế được không và thủ tục như thế nào?

Nếu người chú vẫn chưa đáo hạn trả nợ ngân hàng, đến hạn thì ngân hàng sẽ thực hiện các biện pháp theo quy định pháp luật để yêu cầu người vay phải trả nợ và để đảm bảo thực hiện được việc thi hành án theo Bản án hoặc Quyết định có hiệu lực pháp luật, thì có thể sẽ kê biên, tổ chức bán đấu giá tài sản thế chấp theo quy định. Do xác định bên vay là cá nhân nên chỉ có người chú phải chịu trách nhiệm thanh toán tiền vay, những đồng sở hữu không có trách nhiệm liên đới.

Các đồng thừa kế muốn thực hiện được thủ tục khai di sản thừa kế, thì phải tất toán khoản vay trên và tiến hành xoá thế chấp, thực hiện quy trình khai nhận thừa kế theo pháp luật, nếu không có di chúc.

Hồ sơ cần chuẩn bị như sau:

+ Giấy chứng tử của người chết, giấy chứng tử của ông nội( nếu chết), Giấy đăng ký kết hôn của người chết. Giấy khai sinh của con.

+ Các giấy tờ nhân thân: Chứng minh nhân dân, Căn cước công dân hoặc hộ chiếu hoặc sổ hộ khẩu, sổ tạm trú… của người khai nhận di sản thừa kế

+  Các giấy tờ về tài sản: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và qyền sở hữu nhà ở, Thông báo lệ phí trước bạ.

Theo quy định pháp luật hiện hành, thì người từ đủ 15 tuổi đến dưới mười tám tuổi không có quyền tự mình xác lập các giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, mà phải có người đại diện theo pháp luật thực hiện thay.

Cụ thể, khoản 4 Điều 21 Bộ luật dân sự 2015 quy định như sau:

“Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý.”

Về người đại diện theo pháp luật của cá nhân, tại Điều 136 BLDS 2015 có quy định:

“1. Cha, mẹ đối với con chưa thành niên.

2. Người giám hộ đối với người được giám hộ. Người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là người đại diện theo pháp luật nếu được Tòa án chỉ định.

3. Người do Tòa án chỉ định trong trường hợp không xác định được người đại diện quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.

4. Người do Tòa án chỉ định đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.”

Như vậy, nếu không thuộc các trường hợp đặc biệt theo khoản 2,3,4 Điều 136 BLDS 2015 thì cha hoặc mẹ chính là người đại diện theo pháp luật của người con từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi.

Và phạm vi đại diện, theo quy định tại khoản 3 Điều 141 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định thì: “Một cá nhân, pháp nhân có thể đại diện cho nhiều cá nhân hoặc pháp nhân khác nhau nhưng không được nhân danh người được đại diện để xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với chính mình hoặc với bên thứ ba mà mình cũng là người đại diện với người đó, trừ pháp luật có quy định khác”.

Theo quy định trên, thì cha hoặc mẹ chỉ có thể đại diện cho con chưa thành niên để ký kết văn bản khai nhận thừa kế và nếu ký kết văn bản thoả thuận phân chia thừa kế, chỉ được ký với một tư cách, không thể ký với đồng thời 2 tư cách là người nhận di sản và người đại diện của người dưới 18 tuổi tặng cho di sản thừa kế cho chính mình.

Câu hỏi tư vấn:

Cha đứng tên đồng sử dụng QSD đất và QSH nhà ở cùng với bà nội và người chú. Người chú đã thế chấp nhà đất trên và được vay vốn ngân hàng với tư cách cá nhân. Khi cha chết thì người chú vẫn chưa đáo hạn trả nợ ngân hàng. Vậy các đồng thừa kế của người chết có phải liên đới trả nợ vay của người chú không? Các đồng thừa kế muốn khai di sản thừa kế được không và thủ tục như thế nào? Kính nhờ luật sư tư vấn giúp.

Trả lời:

Người chú đã đi thế chấp căn nhà với tư cách cá nhân và có sự đồng ý của người cha và bà nội, theo quy định tại K2 Điều 64 NĐ 43/2014: “Hợp đồng, văn bản giao dịch về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất của nhóm người sử dụng đất, nhóm chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất phải được tất cả các thành viên trong nhóm ký tên hoặc có văn bản ủy quyền theo quy định của pháp luật về dân sự, trừ trường hợp các chủ sở hữu căn hộ cùng sử dụng chung thửa đất trong nhà chung cư”. Ngoài ra Điều 145 Luật nhà ở 2014 cũng quy định rằng “Việc thế chấp nhà ở thuộc sở hữu chung phải được sự đồng ý bằng văn bản của các chủ sở hữu nhà ở thuộc sở hữu chung, trừ trường hợp thế chấp nhà ở thuộc sở hữu chung theo phần. Các chủ sở hữu nhà ở thuộc sở hữu chung hợp nhất có trách nhiệm liên đới trong việc thực hiện nghĩa vụ của bên thế chấp nhà ở theo quy định của Bộ luật dân sự”. Như vậy, người chú đã thế chấp tài sản hợp pháp với sự đồng ý của các đồng sở hữu.

Vậy các đồng thừa kế của người chết có phải liên đới trả nợ vay của người chú không? Các đồng thừa kế muốn khai di sản thừa kế được không và thủ tục như thế nào?

Nếu người chú vẫn chưa đáo hạn trả nợ ngân hàng, đến hạn thì ngân hàng sẽ thực hiện các biện pháp theo quy định pháp luật để yêu cầu người vay phải trả nợ và để đảm bảo thực hiện được việc thi hành án theo Bản án hoặc Quyết định có hiệu lực pháp luật, có thể sẽ kê biên, tổ chức bán đấu giá tài sản thế chấp theo quy định. Do xác định bên vay là cá nhân nên chỉ có người chú phải chịu trách nhiệm thanh toán tiền vay, những đồng sở hữu không có trách nhiệm liên đới.

Các đồng thừa kế muốn thực hiện được thủ tục khai di sản thừa kế, thì phải tất toán khoản vay trên và tiến hành xoá thế chấp, thực hiện quy trình khai nhận thừa kế theo pháp luật, nếu không có di chúc.

Hồ sơ cần chuẩn bị như sau:

+ Giấy chứng tử của người chết, giấy chứng tử của ông nội (nếu chết), Giấy đăng ký kết hôn của người chết. Giấy khai sinh của con.

+ Các giấy tờ nhân thân: Chứng minh nhân dân, Căn cước công dân hoặc hộ chiếu hoặc sổ hộ khẩu, sổ tạm trú… của người khai nhận di sản thừa kế

+  Các giấy tờ về tài sản: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và qyền sở hữu nhà ở, Thông báo lệ phí trước bạ.

Thông thường các thửa đất là đối tượng của các giao dịch chuyển nhượng trên thị trường đều được sử dụng theo hình thức đất được Nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất. Vì vậy thủ tục chuyển nhượng rất thông dụng và diễn ra hằng ngày. Tuy nhiên, cũng có trường hợp thửa đất được chuyển nhượng là đất thuê của Nhà nước. Vậy thủ tục thực hiện có gì khác so với đất được Nhà nước giao hay không?

Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi sẽ thông tin chi tiết về thủ tục theo quy định của pháp luật và thực tế khi thực hiện tại cơ quan đăng ký đất đai tại Tp.HCM.

Theo quy định Quy trình nội bộ giải quyết thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền tiếp nhận của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại quận, huyện (ban hành kèm theo Quyết định số: 4114/QĐ-UBND ngày 30/9/2019 của Chủ tịch UBND Tp. Hồ Chí Minh, thì hồ sơ gồm:

HỒ SƠ ĐẤT ĐAI

  1. Đơn đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất (theo Mẫu số 09/ĐK);
  2. Bản gốc Giấy chứng nhận đã cấp;
  3. Hợp đồng thuê đất đã lập;
  4. Quyết định của cơ quan có thẩm quyền về chuyển hình thức thuê đất; chứng từ thực hiện nghĩa vụ tài chính; chứng từ liên quan đến việc miễn, giảm nghĩa vụ tài chính về đất đai, tài sản gắn liền với đất (nếu có).

HỒ SƠ THUẾ

  1. Tờ khai lệ phí trước bạ;
  2. Tờ khai thuế sử dụng đất phi nông nghiệp;
  3. Tờ khai thuế thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản (trừ trường hợp bên chuyển nhượng là doanh nghiệp có chức năng kinh doanh bất động sản) theo quy định của pháp luật về thuế (nếu có);
  4. Văn bản của người sử dụng đất đề nghị được miễn, giảm các Khoản nghĩa vụ tài chính về đất;
  5. Các giấy tờ chứng minh thuộc đối tượng được miễn, giảm theo quy định của pháp luật (nếu có);
  6. Giấy tờ chứng minh thuộc đối tượng không phải nộp nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật (nếu có);
  7. Hợp đồng chuyển nhượng bất động sản theo quy định của pháp luật hoặc Hợp đồng tặng cho tài sản là bất động sản theo quy định của pháp luật hoặc bản sao Hợp đồng (hoặc các giấy tờ) thừa kế bất động sản (nếu có);
  8. Hóa đơn giá trị gia tăng đối với trường hợp tổ chức chuyển nhượng bất động sản.

Tuy nhiên, thực tế khi thực hiện thủ tục chuyển từ hình thức thuê đất sang hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất, cơ quan đăng ký đất đai không tiếp nhận và thực hiện theo trình tự đăng ký biến động đất đai để cập nhật thông tin trên giấy chứng nhận đã cấp, mà thực hiện cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đồng thời chuyển hình thức sử dụng đất từ thuê sang giao cho thu tiền sử dụng đất cho người nhận chuyển nhượng.

Khi cha mẹ lập di chúc để lại tài sản, nhưng người con vì nhiều lý do không muốn nhận di sản, như: đã có cuộc sống đã đầy đủ, muốn nhường phần di sản đó cho những người khác hoặc đang định cư ở nước ngoài không có điều kiện về Việt Nam để làm thủ tục nhận di sản.

Vậy những người có tên trong di chúc có được quyền từ chối nhận di sản hay không? Hiện nay, các phòng công chứng cũng có nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này, có nơi cho rằng người đã được chỉ định trong di chúc thì không được quyền từ chối mà phải làm thủ tục nhận di sản, sau đó mới tặng cho lại các đồng thừa kế khác, nhưng cũng có một số quan điểm lại cho rằng người có tên trong di chúc vẫn được từ chối nhận di sản.

Văn phòng luật sư Lê Giang đã tiếp nhận tư vấn và giải quyết một tình huống tương tự, cụ thể khách hàng là người được cha lập di chúc để lại di sản và di chúc đó đã lập cách đây hơn 20 năm, người cha vừa qua đời được khoảng 03 năm và gia đình đang làm thủ tục khai nhận di sản, nhưng vì nay hiện đang định cư ở nước ngoài và không muốn nhận di sản nên có ý từ chối, nhưng khi đến phòng công chứng làm thủ tục thì được giải thích di chúc đã lập nhiều năm nên cần phải xem xét lại tính hiệu lực của di chúc, đồng thời cũng không được từ chối nhận di sản do đã được chỉ định hưởng di sản theo di chúc.

Vậy trong trường hợp này, người được hưởng di sản theo di chúc có được từ chối không? Trong phạm vi bài viết, chúng tôi sẽ phân tích các quy định của pháp luật nhằm giúp quý khách hàng hiểu rõ hơn về vấn đề này.

Theo quy định tại Điều 624 và Điều 640 BLDS 2015 “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết”. Như vậy, di chúc là sự thể hiện ý nguyện cuối cùng của một người nhằm chuyển giao tài sản cho người khác sau khi chết.

Tuy nhiên, sau khi lập di chúc, nếu muốn thay đổi người được hưởng di sản hoặc huỷ bỏ di chúc thì “Người lập di chúc có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc đã lập vào bất cứ lúc nào”. Trường hợp người lập di chúc không sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ thì di chúc này có hiệu lực kể từ thời điểm mở thừa kế. Do đó, cho dù di chúc đó được lập bao nhiêu năm nếu không bị sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc hủy bỏ thì di chúc đó vẫn có hiệu lực. Đồng thời, người được thừa kế theo di chúc nếu không muốn nhận di sản vẫn có quyền lập văn bản từ chối và khi đó phần di sản này sẽ được chia theo pháp luật được (điểm d, khoản 1, Điều 650 BLDS).

Trong thực tế có nhiều trường hợp những người nhận di sản thừa kế quá đông hoặc ở những nơi khác nhau, thậm chí là đang định cư ở nước ngoài. Do vậy, để thuận tiện cho việc thực hiện thủ tục khai nhận di sản thừa kế là nhà, đất đang tọa lạc tại Việt Nam, những người thừa kế thường làm văn bản từ chối nhận di sản để một người đại diện thực hiện.

Một trường hợp mà Văn phòng luật sư Lê Giang tiếp nhận, vị khách hàng trình bày hai vợ chồng có tạo lập được một căn nhà và có chung với nhau một người con duy nhất hiện đang định cư ở nước ngoài.

Nay người vợ đột ngột qua đời không để lại di chúc, cha mẹ vợ còn sống cũng đang định cư tại nước ngoài, tâm nguyện của người vợ lúc còn sống là sau này sẽ chuyển giao quyền sở hữu căn nhà cho con, nay người chồng muốn hoàn tất thủ tục khai nhận di sản thừa kế căn nhà này để cho người con đứng tên, nhưng người con đang học tập ở nước ngoài không thể về được, muốn được tư vấn và nghe ý kiến của luật sư để chọn phương hướng giải quyết tốt nhất trong trường hợp này.

Sau khi nghiên cứu quy định của pháp luật, Văn phòng luật sư đã đề xuất hướng giải quyết như sau:

Người con đang học tập ở nước ngoài lập văn bản từ chối nhận di sản thừa kế (có chứng thực của cơ quan lãnh sự Việt Nam tại nước nơi người con đang học tập), gửi về Việt Nam để người cha thực hiện thủ tục khai nhận di sản thừa kế.

Sau khi hoàn tất thủ tục khai nhận di sản và đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất, người cha có thể làm thủ tục tặng cho toàn bộ căn nhà trên cho người con khi người con có điều kiện về Việt Nam hoặc lập di chúc để lại cho người con nếu cần thiết.

Như vậy, qua tình huống trên cho thấy mặc dù phải thực hiện nhiều thủ tục hơn, nhưng với sự tư vấn của luật sư, vị khách hàng đã thực hiện được tâm nguyện của người vợ là chuyển giao toàn bộ quyền sử dụng và định đoạt căn nhà mà hai vợ chồng đã tạo lập được cho người con duy nhất của mình.

Từ ngày 01/3/2022, theo quy định tại Nghị định số: 02/2022/NĐ-CP ngày 06/01/2022 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật KDBĐS, thì các tổ chức, cá nhân khi kinh doanh bất động sản phải đáp ứng các điều kiện sau đây:

a) Phải thành lập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp hoặc hợp tác xã theo quy định của pháp luật về hợp tác xã, có ngành nghề kinh doanh bất động sản (sau đây gọi chung là doanh nghiệp);

b) Phải công khai trên trang thông tin điện tử của doanh nghiệp, tại trụ sở Ban Quản lý dự án (đối với các dự án đầu tư kinh doanh bất động sản), tại sàn giao dịch bất động sản (đối với trường hợp kinh doanh qua sàn giao dịch bất động sản) các thông tin về doanh nghiệp (bao gồm tên, địa chỉ trụ sở chính, số điện thoại liên lạc, tên người đại diện theo pháp luật), thông tin về bất động sản đưa vào kinh doanh theo quy định tại khoản 2 Điều 6 của Luật Kinh doanh bất động sản, thông tin về việc thế chấp nhà, công trình xây dựng, dự án bất động sản đưa vào kinh doanh (nếu có), thông tin về số lượng, loại sản phẩm bất động sản được kinh doanh, số lượng, loại sản phẩm bất động sản đã bán, chuyển nhượng, cho thuê mua và số lượng, loại sản phẩm còn lại đang tiếp tục kinh doanh. Đối với các thông tin đã công khai mà sau đó có thay đổi thì phải được cập nhật kịp thời ngay sau khi có thay đổi;

c) Chỉ kinh doanh các bất động sản có đủ điều kiện theo quy định tại Điều 9, Điều 55 của Luật Kinh doanh bất động sản.

2. Đối với trường hợp nhà đầu tư được lựa chọn làm chủ đầu tư dự án bất động sản theo quy định của pháp luật thì nhà đầu tư đó phải có vốn chủ sở hữu không thấp hơn 20% tổng vốn đầu tư đối với dự án có quy mô sử dụng đất dưới 20 ha, không thấp hơn 15% tổng vốn đầu tư đối với dự án có quy mô sử dụng đất từ 20 ha trở lên.

Việc xác định vốn chủ sở hữu quy định tại khoản này được căn cứ vào kết quả báo cáo tài chính đã được kiểm toán gần nhất hoặc kết quả báo cáo kiểm toán độc lập của doanh nghiệp đang hoạt động (được thực hiện trong năm hoặc năm trước liền kề); trường hợp là doanh nghiệp mới thành lập thì xác định vốn chủ sở hữu theo vốn điều lệ thực tế đã góp theo quy định của pháp luật.

                Như vậy, với quy định này doanh nghiệp, cá nhân khi kinh doanh bất động sản không cần phải đủ điều kiện về vốn pháp định. Tuy nhiên, Nghị định lại quy định theo hướng phải đáp ứng điều kiện về vốn của chủ sở hữu theo tỷ lệ phần trăm trên quy mô của từng dự án.

VĂN PHÒNG LUẬT SƯ LÊ GIANG

Trụ sở : 47/1 Nguyễn Văn Đậu, Phường 6, Quận Bình Thạnh, TP.Hồ Chí Minh

Luật sư Lê Hoài Giang- Trưởng văn phòng: 0903 392 117 (Telephone, Zalo, Viber, …)

Email: giang.lehoai@legianglaw.vn

Web: www.legianglaw.vn  

Thừa kế là một trong những chế định quan trọng liên quan đến việc xác định đối tượng được hưởng di sản do người chết để lại, được Nhà nước quy định cụ thể trong Bộ luật dân sự 2015. Về nguyên tắc, người được hưởng thừa kế theo quy định của pháp luật là những người có quan hệ huyết thống và quan hệ nhân thân với người chết như cha, mẹ, vợ, chồng, con, kể cả con nuôi, con riêng. Vậy trong trường hợp nào người con nuôi được hưởng di sản do cha mẹ nuôi để lại và phải đáp ứng các điều kiện gì?

Một trường hợp thực tế như sau: khách hàng là cháu ruột của cha mẹ nuôi, ông được nhận làm con nuôi từ khi còn nhỏ, nhưng cha mẹ nuôi lại không làm thủ tục nhận con nuôi theo quy định của pháp luật, giấy khai sinh cũng không mang họ cha nuôi hoặc mẹ nuôi, thực tế có sống chung từ khi còn nhỏ cho đến nay và ông đã được nhập vào hộ khẩu của cha mẹ nuôi, trong đó xác định có quan hệ với chủ hộ là con.

Sau khi cha mẹ nuôi chết, ông muốn làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế. Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật để chứng minh được quan hệ nuôi dưỡng giữa người con nuôi và cha mẹ nuôi thì bắt buộc phải có giấy khai sinh của người con mang họ của cha nuôi hoặc mẹ nuôi; trường hợp không có giấy khai sinh, thì phải có giấy xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về việc nhận nuôi con nuôi.

Mặc dù trong hộ khẩu có xác định là con và thực tế có sống chung nhưng chưa đủ căn cứ pháp lý để chứng minh quan hệ nuôi dưỡng, do đó không thể xác định ông là người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo quy định của pháp luật đối với di sản do cha mẹ nuôi để lại.

Trong trường hợp này, tài sản của người chết để lại sẽ được giải quyết theo hướng cho người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ hai được nhận di sản.

Qua tình huống trên cho thấy rằng, thực tế trong đời sống hàng ngày có rất nhiều sự kiện xảy ra như: nhận nuôi con, nam nữ sống chung v.v…..nhưng không phải sự kiện nào cũng được Nhà nước công nhận và bảo vệ quyền và lợi ích của các bên tham gia quan hệ đó nếu như không tuân thủ các điều kiện pháp lý tương ứng, mỗi một người dân cần có kiến thức pháp lý cơ bản để không bị mất quyền lợi hợp pháp theo quy định.

Mọi thắc mắc xin vui lòng liên hệ với chúng tôi:

VĂN PHÒNG LUẬT SƯ LÊ GIANG

Trụ sở : 47/1 Nguyễn Văn Đậu, Phường 6, Quận Bình Thạnh, TP.Hồ Chí Minh

Luật sư Lê Hoài Giang- Trưởng văn phòng: 0903 392 117 (Telephone, Zalo, Viber, …)

Email: giang.lehoai@legianglaw.vn

Web: www.legianglaw.vn  

Khắp các tỉnh thành Việt Nam, đang dấy lên phong trào “bỏ phố về rừng” có thể để thực hiện một dự án xanh, vừa làm du lịch kết hợp với nông nghiệp hữu cơ, hoặc chỉ đơn giản tạo lập một không gian sống hoà mình với thiên nhiên tại vùng quê.

 Phong trào này được nhiều bạn trẻ ủng hộ và thực hiện, trở thành xu thế mới trong việc lựa chọn sinh sống giữa phố thị và làng quê, đặc biệt trong giai đoạn dịch bệnh nhiều khó khăn tại thành thị thì xu hướng này càng được nhiều người quan tâm.

Rất nhiều bạn trẻ muốn tạo nhóm, góp vốn đầu tư chung một diện tích đất và vấn đề pháp lý phát sinh mà họ quan tâm là, ai sẽ là người đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền và nghĩa vụ của những người góp vốn mua đất được thực hiện như thế nào?

Văn phòng luật sư Lê Giang-legianglaw đã tiếp nhận yêu cầu tư vấn của một nhóm bạn trẻ gồm có 25 người, đang góp vốn đầu tư nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đất tại Tây Nguyên, để thực hiện dự án nông nghiệp hữu cơ, đang trong quá trình thực hiện thủ tục đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng chưa biết chọn hình thức đăng ký quyền sử dụng đất nào phù hợp, nhiều người trong nhóm  cho rằng chỉ có thể cấp giấy chứng nhận cho một người đại diện thôi, những người còn lại băn khoăn khi chỉ có một giấy chứng nhận thì sẽ giao cho ai giữ, có gì bất ổn không khi những người còn lại không được giữ bản chính giấy chứng nhận này.

Căn cứ vào Khoản 2, Điều 98 của Luật đất đai năm 2013, thì những người đồng sử dụng chung một thửa đất có quyền lựa chọn: hoặc đề nghị cấp chung một giấy chứng nhận và trao cho người đại diện hoặc cấp cho mỗi người một giấy chứng nhận.

Để tạo tâm lý an tâm hơn cho các thành viên trong nhóm, thì hình thức mỗi người đều được giữ một bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là phương án tối ưu nhất mà các bạn trẻ đã đồng ý sau khi nghe luật sư phân tích.

Hy vọng sẽ có nhiều “Làng sinh thái hữu cơ” trên cả nước được các bạn trẻ thành lập, duy trì và phát triển, góp phần bảo vệ Đất mẹ, tạo môi trường sống xanh, sạch, đẹp.

VĂN PHÒNG LUẬT SƯ LÊ GIANG

Trụ sở : 47/1 Nguyễn Văn Đậu, Phường 6, Quận Bình Thạnh, TP.Hồ Chí Minh ☎ 

Luật sư Lê Hoài Giang- Trưởng văn phòng: 0903 392 117 (Telephone, Zalo, Viber, …)

Email: giang.lehoai@legianglaw.vn

Web: www.legianglaw.vn