Bài viết


1. Ông Nguyễn Trung Tín ở xã Hưng Hòa, huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương hỏi:
Ba tôi có một miếng đất đứng tên ông, mẹ tôi đã mất. Trước khi mất ba có làm di chúc viết tay, có người làm chứng với nội dung để lại thừa kế cho em gái tôi hiện tại sinh sống ở nước ngoài, trong di chúc ghi rõ khi nào ba tôi mất thì di chúc mới có hiệu lực. Hiện tại ba tôi định bán miếng đất đó vậy ba tôi có thể bán được không có cần sự đồng ý của em tôi hay không, thủ tục phải làm như thế nào để bán được đất?
Luật sư Lê Hoài Giang- Trưởng VPLS Lê Giang xin trả lời vấn đề này như sau:
Theo thông tin ông cung cấp thì hiện cha ông đang đứng tên một miếng đất và miếng đất này được cha ông tạo lập sau khi mẹ ông mất. Nên đây được xác định là tài sản riêng của cha ông, chứ không phải tài sản chung do cha mẹ tạo lập trong thời kỳ hôn nhân. Do đó, cha ông được thực hiện các quyền của chủ sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Theo quy định tại Điều 643 BLDS thì Di chúc có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế (tức lúc cha ông chết),cha ông vẫn còn sống nên di chúc chưa có hiệu lực, vì vậy cha ông vẫn được thực hiện các quyền chuyển nhượng, thế chấp, tặng cho theo quy định của pháp luật. Và tài sản này là tài sản riêng của cha ông nên cha ông có quyền bán mà không cần có sự đồng ý của em ông.

VPLS Lê Giang-Tư vấn dịch vụ pháp lý về Luật đất đai: Xin cấp mới, Cấp đổi, Cấp lại sổ đỏ; Khai di sản thừa kế có YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI, Thủ tục tách thửa, hợp thửa; Hoàn công ;chuyển mục đích sử dụng đất; Tư vấn pháp luật về luật thừa kế; Đăng ký sang tên sổ đỏ do nhận chuyển nhượng, Làm di chúc, Tặng cho; Tư vấn công chứng và dịch vụ pháp lý khác…
✅ Tư vấn luật sư (Telephone, Viber, Zalo): 0903.392.117-0901.859683-0902.268.667
✅ : Website: legianglaw.com.vn
✅ : Email: lsgiangle@gmail.com

Ông Phạm Trung Kiên ở quận 9, Tp. Hồ Chí Minh hỏi:
Tôi có bán một miếng đất có diện tích 120m2 cho ông Trung với giá 420 triệu đồng. Hai bên đã làm hợp đồng đặt cọc, theo đó, ông Trung đặt cọc 50 triệu đồng, hẹn 20 ngày sau ra công chứng và giao đủ tiền cho tôi. Tuy nhiên, 1 tháng sau, ông Trung vẫn không thanh toán số tiền còn lại và không ra công chứng. Chính vì vậy, ông Trung bị mất tiền đặt cọc. 8 tháng sau, ông Trung đến nhà tôi đòi lại số tiền đã đặt cọc và dọa sẽ kiện tôi ra tòa nếu tôi không trả. Trong hợp đồng đặt cọc chỉ giao hẹn ngày trả tiền và công chứng chứ không nói về việc không ra công chứng thì bị mất cọc. Xin cho tôi hỏi, hợp đồng đặt cọc có giá trị gì hay không? Việc ông Trung đòi lại số tiền trên có cơ sở hay không?


Cảm ơn ông đã gửi câu hỏi đến Văn phòng luật sư LÊ GIANG. Luật sư của văn phòng chúng tôi xin trả lời vấn đề này như sau:
Theo quy định tại Điều 328 BLDS 2015, hiệu lực từ ngày 01_01_2017 về đặt cọc như sau:
1. Đặt cọc là việc một bên (sau đây gọi là bên đặt cọc) giao cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận đặt cọc) một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi chung là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng.
2. Trường hợp hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Do đó, nếu ông Trung từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì số tiền đặt cọc thuộc về ông, ông Trung không có quyền đòi lại số tiền đã đặt cọc.
Thân chào ông.

Hãy liên hệ chúng tôi để được Luật sư tư vấn nhanh chóng, kịp thời vấn đề pháp lý của Quý khách.
Địa chỉ: Văn phòng Luật sư Lê Giang, số 47/1 Nguyễn Văn Đậu, Phường 6, Quận Bình Thạnh, TP. HCM.
Website: legianglaw.vn
Email: lsgiangle@gmail.com
Điện thoại: 0903.392.117-0902.268.667- 0901.85.96.83.