Trong quá trình thực hiện dịch vụ hỗ trợ lập di chúc cho khách hàng, Văn phòng luật sư Lê Giang thường được hỏi rất nhiều vấn đề liên quan đến việc lập di chúc. Việc lập di chúc có bắt buộc phải khám sức khoẻ hay không là 1 trong các nội dung mà người muốn lập di chúc hay cần tư vấn. Nội dung bài viết sau đây sẽ giúp bạn hiểu cụ thể hơn những quy định của pháp luật về vấn đề này:

Theo Bộ luật Dân sự, di chúc là sự thể hiện ý chí , nguyện vọng của 1 người trong việc định đoạt tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Một trong những điều kiện hợp pháp của di chúc theo Điều 652 Bộ luật Dân sự có quy định “Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép”.

Về trình tự, thủ tục chứng nhận di chúc theo quy định của pháp luật hiện hành không có quy định nào yêu cầu người lập di chúc phải xuất trình giấy khám sức khỏe hay giấy chứng nhận tình trạng sức khỏe do hội đồng giám định y khoa cấp.

Tuy nhiên, theo Nghị định 75/CP về công chứng, chứng thực thì người thực hiện việc công chứng, chứng thực di chúc phải xác định về trạng thái tinh thần của người lập di chúc. Nếu có nghi ngờ người lập di chúc bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức được hành vi của mình thì không chứng thực di chúc đó.

Do vậy khi tiếp xúc với người muốn lập di chúc, nếu công chứng viên nhận thấy người này còn minh mẫn, nhận thức tốt, có thể tự đọc, viết di chúc thì thường không yêu cầu người lập di chúc phải xuất trình giấy khám sức khỏe.

 Còn đối với trường hợp người lập di chúc đã cao tuổi, không đọc, không viết được hoặc nằm trên giường bệnh, phải yêu cầu công chứng viên đến tận nhà hoặc bệnh viện để chứng nhận di chúc thì công chứng viên mới yêu cầu phải có giấy khám sức khỏe của cơ quan y tế. Giấy khám sức khỏe này do các cơ quan y tế sau đây cấp: phòng khám đa khoa của các quận huyện hoặc các bệnh viện cấp. Trong đó cơ quan y tế sẽ xác định người lập di chúc không bị tâm thần hay mắc các bệnh khách mà không thể nhận thức làm chủ được hành vi của mình (thần kinh còn minh mẫn, tiếp xúc tốt).

 Giấy khám sức khỏe  là cơ sở cho người chứng nhận di chúc xác định về trạng thái tinh thần của người lập di chúc khi chứng nhận và đồng thời cũng là chứng cứ để giải quyết các khiếu nại, tranh chấp về sau liên quan đến trạng thái, tinh thần của người lập di chúc tại thời điểm lập di chúc. Do đó, công chứng viên sẽ yêu cầu xuất trình giấy khám sức khỏe để đảm bảo tính hợp pháp của di chúc.

Tóm lại, giấy khám sức khoẻ không phải là điều kiện bắt buộc khi lập di chúc mà tuỳ từng trường hợp cụ thể, công chứng viên sẽ yêu cầu cung cấp giấy khám sức khoẻ để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người lập di chúc theo quy định pháp luật.

 VĂN PHÒNG LUẬT SƯ LÊ GIANGhơn 13 năm kinh nghiệm chuyên xử lý những hồ sơ di chúc, tranh chấp thừa kế , khai di sản thừa kế KHÓ và thừa kế liên quan đến người Viêt Nam ĐỊNH CƯ Ở NƯỚC NGOÀI.

Bạn còn nhiều các vấn đề cần tư vấn liên quan đến thủ tục lập di chúc này? Hãy liên lạc với chúng tôi để được hỗ trợ, hướng dẫn các bạn từng bước thủ tục cho đến khi có hoàn tất các thủ tục cần thiết:

  • Tư vấn quyền và nghĩa vụ của người lập di chúc
  • Tư vấn về thủ tục lập di chúc
  • Tư vấn sửa đổi, bổ sung, thay thế di chúc
  • Tư vấn thủ tục công chứng, chứng thực
  • Tư vấn về việc gửi giữ di chúc
  • Tư vấn thủ tục công bố di chúc
  • Tư vấn giải thích nội dung di chúc

VĂN PHÒNG LUẬT SƯ LÊ GIANG

Địa chỉ: 47/1 Nguyễn Văn Đậu, Phường 6, Quận Bình Thạnh, TP.HCM, Việt nam. Trưởng văn phòng: Luật sư Lê Hoài Giang Luật sư tư vấn (Telephone, zalo, viber) : 0903.392.117-0902.268.667- 0901.85.96.83.

Website: legianglaw.vn Email: lsgiangle@gmail.com

 

Bà Đỗ Thị Ngọc ở huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai hỏi:

Chồng tôi bỏ nhà ra đi đã 3 năm nay, tôi đã cố gắng mọi cách để tìm kiếm nhưng không có thông tin về anh ấy. Tôi muốn tuyên bố anh ấy mất tích, nhưng mẹ chồng tôi nhất định không đồng ý. Bà tin là con bà chỉ đi đâu đó làm ăn chưa về. Tôi xin hỏi khi nào thì được coi là mất tích?

Trả lời:

Sau đây là nội dung tư vấn của Văn phòng luật sư Lê Giang:

Theo quy định tại Điều 68 BLDS 2015 vế Tuyên bố mất tích

Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích. Thời hạn 02 năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó.

Như vậy, chồng của bà sau khi có mâu thuẫn với gia đình đã bỏ nhà đi, gia đình đã áp dụng các biện pháp tìm kiếm nhưng cho đến nay không có thông tin chính xác là còn sống hay đã chết thì gia đình bà có thể yêu cầu tuyên bố mất tích gửi đến Tòa án nhân dân huyện nơi chồng bà cư trú cuối cùng trước khi biệt tính, Toà sẽ xem xét giải quyết theo quy định.

Văn Phòng luật Lê Giang với thế mạnh hơn 13 năm kinh nghiệm giải quyết các hồ sơ liên quan Luật thừa kế khó và phức tạp, chúng tôi tự tin tìm cách tháo dỡ những khúc mắc trong từng hồ sơ, giúp khách hàng giải quyết các thắc mắc, tranh chấp theo đúng quy định của pháp  luật.

VĂN PHÒNG LUẬT SƯ LÊ GIANG

Địa chỉ: 47/1 Nguyễn Văn Đậu, Phường 6, Quận Bình Thạnh, TP.HCM, Việt nam.

Trưởng văn phòng: Luật sư Lê Hoài Giang

Luật sư tư vấn(Telephone, zalo, viber) :
0903.392.117-0902.268.667- 0901.85.96.83.

Website: legianglaw.vn
Email: lsgiangle@gmail.com

Bà Nguyễn Thị Bích ở huyện Bến Lức, tỉnh Long An hỏi:

Cha tôi mất 2003, để lại phần đất hương quả và nhà vườn mẹ tôi sử dụng.Tháng 5/2009 mẹ tôi mất, phần tài sản trên cha tôi vẫn còn đứng tên. Cha mẹ tôi có 6 người con, 3 trai, 3 gái. Theo ý nguyện của mẹ tôi là muốn để phần tài sản trên cho con út để thờ cúng nhưng anh trai tôi thì khẳng định: “chỉ có con trai mới có quyền quyếtđịnh” và sẽ đóng cửa nhà không cho ai tới lui. Xin hỏi, anh tôi đúng hay sai? Nếu chia theo pháp luật thì chia như thế nào? 

Trả lời:

Văn phòng luật sư Lê Giang xin tư vấn trường hợp gia đình bà như sau:

Theo thông tin bà cung cấp, cha bà mất 2003 và mẹ mất năm 2009 và theo ý nguyện của mẹ bà là để lại cho người còn út nhưng bà không nêu rõ cha mẹ bà có lập di chúc hay không. Do đó, chúng tôi xin chia ra làm 2 trường hợp sau:

  1. Nếu để lại di chúc thì người có tên trong di chúc sẽ được thừa kế phần tài sản này, trừ trường hợp trong các anh chị em của bà có người chưa thành niên hoặc đã thành niên nhưng không có khả năng lao động, thì sẽ được hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung di chúc của cha mẹ bà.

2. Trường hợp không để lại di chúc, tài sản do cha mẹ bà để lại sẽ được chia theo pháp luật.

Theo quy định tại Điều 650. Những trường hợp thừa kế theo pháp luật

1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau đây:

a) Không có di chúc;

b) Di chúc không hợp pháp;

c) Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;

d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

2. Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản sau đây:

a) Phần di sản không được định đoạt trong di chúc;

b) Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật;

c) Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.

Do đó tài sản do cha mẹ bà để lại sẽ được chia theo quy định của pháp luật, cụ thể:

tại Điều 651 BLDS quy định về người thừa kế theo pháp luật

Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

Do đó, tài sản của cha mẹ bà để lại sẽ được chia đều cho 6 anh chị em của bà, ông bà nội, ngoại của bà nếu còn sống. Nên anh trai của bà không có quyền đóng cửa, nếu các anh chị em của bà không thể tự thỏa thuận được, bà có thể khởi kiện tại tòa án nhân dân quận, huyện nơi có tài sản tọa lạc để được giải quyết theo quy định của pháp luật.

Thân chào bà.

 

Văn Phòng luật Lê Giang với thế mạnh hơn 13 năm kinh nghiệm giải quyết các hồ sơ liên quan Luật thừa kế khó và phức tạp, chúng tôi tự tin tìm cách tháo dỡ những khúc mắc trong từng hồ sơ, giúp khách hàng giải quyết các thắc mắc, tranh chấp theo đúng quy định của pháp  luật.

VĂN PHÒNG LUẬT SƯ LÊ GIANG

Địa chỉ: 47/1 Nguyễn Văn Đậu, Phường 6, Quận Bình Thạnh,, TP.HCM, Việt nam. Trưởng văn phòng: Luật sư Lê Hoài Giang Luật sư tư vấn(Telephone, zalo, viber) : 0903.392.117-0902.268.667- 0901.85.96.83.

Website: legianglaw.vn Email: lsgiangle@gmail.com

Ông Trần Quang Hùng ở huyện Đức Hòa, tỉnh Long An hỏi:

Hiện trên sổ hồng của gia đình tôi gồm có tên ba tôi (đã chết) và mẹ tôi.Ba tôi mất năm 1994 lúc đó 76 tuổi.Nay gia đình tôi muốn tách thửa cho đứa cháu ruột trong nhà song người ta yêu cầu phải có giấy chứng tử của ông nội tôi. (ông nội mất trước 1930). Vì người ta bảo rằng cần giấy chứng tử của ông nội để chứng tỏ ông nội tôi không còn quyền thừa kế do ba tôi để lại. Và giấy khai sinh của ba tôi mà ba tôi cũng sinh trước 1930.Nên xã nơi tôi sinh sống cũng không làm được giấy khai sinh.

Vậy nhờ luật sư cho tôi hỏi những yêu cầu trên có đúng không vì tôi thấy rất vô lý.Vì trước 1930 thì chưa hình thành được thì có cơ quan nào chứng giám cho giấy khai sinh của ba và chứng tử của ông nội.Nếu bắt buộc phải làm 2 giấy tờ trên thì làm ở đâu và làm như thế nào, và thủ tục tách thửa đó cần những giấy tờ gì?

 

Trả lời:

Cám ơn ông đã tin tưởng gửi câu hỏi tư vấn đến các Luật sư của Văn phòng luật sư Lê Giang chúng tôi. Sau đây là giải đáp cho trường hợp cụ thể của ông:

Như nội dung thông tin mà ôngcung cấp thì cha ông chết không để lại di chúc, do đó tài sản do cha ông để lại sẽ được thừa kế theo quy định của pháp luật.

Theo quy định tại khoản 1, Điều 651 BLDS về người thừa kế theo pháp luật

  1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a)Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

Do đó, ông bà nội của ông thuộc hàng thứa kế thứ nhất đối với tài sản do cha ông để lại. Việc cơ quan có thẩm quyền yêu cầu cung cấp giấy chứng tử của ông nội ông và giấy khai sinh của cha ông là đúng quy định của pháp luật, nhằm để chứng minh quan hệ cha con giữa cha ông và ông nội ông, đồng thời xác định quyền thừa kế của ông nội đối với tài sản do cha ông để lại,  tránh bỏ sót đồng thừa kế khi khai nhận di sản.

 Nếu giấy chứng tử và giấy khai sinh bị mất hoặc chưa thực hiện thủ tục đăng ký thì ông có thể thực hiện theo cách sau:

       Đối với giấy chứng tử của ông nội ông: vì chết trước năm 1930, nên gia đình có thể làm tờ tường trình về thời điểm, lý do chết của ông nội ông và cam kết chịu trách nhiệm nội dung đã khai báo và đề nghị cơ quan đăng ký đất đai xem xét.

       Đối với giấy khai sinh của cha ông: nếu như giấy khai sinh bị thất lạc hoặc chưa khai sinh thì ông có thể thay thế bằng tờ khai gia đình do chế độ cũ cấp, trong đó có ghi quan hệ gia đình, như vậy có thể chứng minh được quan hệ cha con giữa ông nội ông và cha ông. Ông có thể liên hệ với cơ quan công an quận/huyện nơi cha ông thường trú trước khi chết để xin trích lục tờ khai gia đình.

Thân chào ông.

Đừng ngại liên hệ với chúng tôi nếu bạn cần tư vấn, hỗ trợ cho trường hợp cụ thể của  bạn:

VĂN PHÒNG LUẬT SƯ LÊ GIANG 47/1 Nguyễn Văn Đậu, Phường 6, Quận Bình Thạnh, Tp.HCM, VN Trưởng văn phòng: Luật sư Lê Hoài Giang Luật sư tư vấn Phone/Viber/Zalo: 0903.392.117- 0902.268.667- 0901.85 96 83 Web: www.legianglaw.vn Email: lsgiangle@gmail.com
Ông Nguyễn Phước Thiện ở phường Lái Thiêu, TX. Thuận An hỏi:

Năm 1998, tôi có được ba mẹ tôi nhận làm con nuôi nhưng khi nhận chỉ làm mâm cơm trong gia đình chứ không đến xã phường làm thủ tục gì cả. Nhưng tôi sống chung với ba mẹ và được nuôi dưỡng cho tới ngày hôm nay. Ba mẹ tôi không có con chung và chỉ có 1 mình tôi là con nuôi. Hồi tháng 2/2017 ba tôi chẳng may bệnh nặng qua đời thì tôi có được hưởng thừa kế của ba tôi để lại không?

Trả lời:

Xin chào ông, Văn phòng luật sư Lê Giang tư vấn trường hợp của gia đình ông như sau:

 

Theo quy định tại Điều 35, 36 Nghị định 83_1998 về đăng ký hộ tịch thì  

Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người xin nhận nuôi con nuôi, hoặc của người được nhận làm con nuôi thực hiện việc đăng ký nhận nuôi con nuôi.

Người xin nhận nuôi con nuôi phải nộp đơn xin nhận nuôi con nuôi, Giấy thoả thuận về việc đồng ý cho trẻ em làm con nuôi của cha, mẹ đẻ, người giám hộ, cơ sở y tế hoặc cơ sở nuôi dưỡng và xuất trình các giấy tờ sau đây:

1. Giấy khai sinh của người nhận nuôi con nuôi;

2. Chứng minh nhân dân của người nhận nuôi con nuôi;

3. Sổ hộ khẩu gia đình của người nhận nuôi con nuôi hoặc của người được nhận làm con nuôi tại nơi đăng ký nhận nuôi con nuôi;

4. Giấy khai sinh của người được nhận làm con nuôi. Trong trường hợp trẻ em chưa được khai sinh, thì phải đăng ký khai sinh trước khi đăng ký nhận nuôi con nuôi;

5. Nếu người được nhận làm con nuôi từ 9 tuổi trở lên, thì phải có sự đồng ý của người đó.

Do đó, tại thời điểm năm 1998 cha mẹ nuôi của ông phải thực hiện thủ tục đăng ký nhận nuôi con nuôi theo quy định trên thì ông mới được xem là con nuôi theo quy định của pháp luật. Việc cha mẹ ông nhận nuôi nhưng không làm thủ tục nhận nuôi theo quy định thì ông không được công nhận là con nuôi, nên cũng không được thừa kế di sản do cha nuôi của ông để lại theo quy định của pháp luật.

Thân chào ông.

Để được tư vấn cụ thể về trường hợp của bạn, hãy liên lạc với Luật sư của chúng tôi để được hỗ trợ: Văn phòng luật sư Lê Giang Địa chỉ: 47/1 Nguyễn Văn Đậu, phường 6,  Q. Bình Thạnh, TP.HCM. Điện thoại: 028 6672 6117    Trưởng văn phòng: Luật sư Lê Hoài Giang Điện thoại:0903.392.117 (Telephone, Zalo,Viber…) Email: lsgiangle@gmail.com www.legianglaw.com.vn

Bà Nguyễn Thanh Hòa ở phường Thới Hòa, TX. Bến Cát hỏi:

Năm 1970 ba mẹ chồng tôi kết hôn với nhau, sau đó mẹ chồng tôi mất nên ba chồng tôi đi bước nữa. Năm 2010 chồng tôi mất, sau khi chồng tôi mất thì mẹ kế của chồng tôi cũng mất. Vậy trong trường hợp này con tôi (tức cháu nội của bố tôi và mẹ chồng thứ nhất) có được hưởng di sản gì khi mẹ chồng kế của tôi mất không?

Trả lời:

Văn phòng luật sư Lê Giang xin cám ơn bà đã gửi câu hỏi tư vấn đến chúng tôi. Đối với trường hợp cụ thể của nhà bà, chúng tôi xin trả lời như sau:

Tại khoản 1 Điều 651 về Người thừa kế theo pháp luật và Điều 654 về quan hệ thừa kế giữa con riêng và bố dượng, mẹ kế quy định:

Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

+ Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

+ Con riêng và bố dượng, mẹ kế nếu có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con thì được thừa kế di sản của nhau và còn được thừa kế di sản theo quy định tại Điều 652 và Điều 653 của Bộ luật này.

Tại Điều 652 về thừa kế thế vị

Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống.

Như vậy, nếu chồng bà và mẹ kế có sống chung và có quan hệ chăm sóc nuôi dưỡng lẫn nhau như mẹ con thì được thừa kế di sản của nhau. Và trong trường hợp này chồng bà đã chết nên con bà được hưởng phần di sản mà chồng bà được thừa kế từ mẹ kế. Ngược lại, nếu giữa chồng bà và mẹ kế không có sống chung và chăm sóc lẫn nhau như mẹ con thì sẽ không được hưởng di sản do mẹ kế của chồng bà để lại.

Thân chào bà.

Để có thể hiểu rõ hơn về vấn đề này thì quý khách có thể liên hệ với văn phòng luật sư Lê Giang để được tư vấn miễn phí các vấn đề liên quan đến vấn đề pháp lý nói chung và việc khai nhận di sản thừa kế nói riêng.
VĂN PHÒNG LUẬT SƯ LÊ GIANG
Trụ sở : 47/1 Nguyễn Văn Đậu, Phường 6, Quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh
☎ Luật sư Lê Hoài Giang- Trưởng văn phòng : 0903 392 117 (Telephone, Zalo, Viber, Facetime…)
Website: legianglaw.vn
Email: lsgiangle@gmail.com

Ông Nguyễn Phúc Thiện ở huyện Bình Chánh, Tp. Hồ Chí Minh hỏi:

Mẹ tôi lập di chúc cho tôi số tiền tiết kiệm là 300 triệu, di chúc này mẹ tôi đã mang ra văn phòng công chứng để công chứng rồi. Bây giờ, mẹ tôi muốn thay đổi nội dung của di chúc theo hướng mẹ tôi sẽ cho tôi và em gái của mẹ tôi mỗi người 150 triệu chứ không cho tôi toàn bộ 300 triệu như trước đây nữa thì phải làm những thủ tục gì?

Văn phòng luật sư Lê Giang xin cám ơn ông đã gửi câu hỏi cần tư vấn đến cho chúng tôi. Luật sư của Văn phòng chúng tôi xin trả lời trường hợp của ông như sau:

 Theo quy định của Pháp luật cụ thể:

Điều 609 BLDS về Quyền thừa kế

Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.

Điều 624. Di chúc

Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết.

Điều 640. Sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc

1. Người lập di chúc có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc đã lập vào bất cứ lúc nào.

2. Trường hợp người lập di chúc bổ sung di chúc thì di chúc đã lập và phần bổ sung có hiệu lực pháp luật như nhau; nếu một phần của di chúc đã lập và phần bổ sung mâu thuẫn nhau thì chỉ phần bổ sung có hiệu lực pháp luật.

3. Trường hợp người lập di chúc thay thế di chúc bằng di chúc mới thì di chúc trước bị hủy bỏ.

Do đó, mẹ ông đã lập di chúc cho ông, nhưng nay muốn thay đổi nội dung di chúc thì vẫn được thực hiện quyền thay đổi, ông nên liên hệ với văn phòng công chứng trước đây đã chứng thực di chúc để làm thủ tục thay đổi nội dung di chúc. Khi đi mẹ ông mang theo CMND, hộ khẩu, di chúc đã lập trước đây.

Thân chào ông.

Bạn đang lo lắng, băn khoăn các vấn đề liên quan đến di chúc. Hãy để chúng tôi giúp bạn.
——————————–
VĂN PHÒNG LUẬT SƯ LÊ GIANG chuyên thực hiện các dịch vụ pháp lý đa dạng, đặc biệt xử lý những hồ sơ liên quan nhà đất KHÓ và liên quan đến người Viêt Nam ĐỊNH CƯ Ở NƯỚC NGOÀI.

Chúng tôi sẽ tư vấn, hỗ trợ, hướng dẫn cho các bạn từng bước thủ tục cho đến khi có hoàn tất các thủ tục cần thiết.


Văn phòng chúng tôi cam kết không nhận phí khi hồ sơ không hoàn tất.

Địa chỉ văn phòng: 47/1 Nguyễn Văn Đậu, Phường 6, Quận Bình Thạnh, TP.HCM

Website: legianglaw.vn
Email: lsgiangle@gmail.com
Luật sư tư vấn(Telephone, zalo, viber) : 0903.392.117-0902.268.667- 0901.85.96.83.

Ông Lê Thành Nhân ở thị trấn Phước Vĩnh, huyện Phú Giáo hỏi:

5 tháng trước trong lúc nguy kịch tưởng không qua khỏi ba tôi có lập di chúc miệng để lại tài sản cho các con, lúc lập di chúc miệng thì có 2 dì tôi làm chứng và sau này dì tôi đã ghi chép lại rồi đi công chứng cái di chúc này. Sau đó, ba tôi đã qua khỏi khỏe mạnh thì di chúc đó có hiệu lực pháp lý không?

Trả lời:

Văn phòng luật sư Lê Giang xin tư vấn trường hợp của ông như sau:

Ông Lê Thành Nhân ở thị trấn Phước Vĩnh, huyện Phú Giáo hỏi:
5 tháng trước trong lúc nguy kịch tưởng không qua khỏi ba tôi có lập di chúc miệng để lại tài sản cho các con, lúc lập di chúc miệng thì có 2 dì tôi làm chứng và sau này dì tôi đã ghi chép lại rồi đi công chứng cái di chúc này. Sau đó, ba tôi đã qua khỏi khỏe mạnh thì di chúc đó có hiệu lực pháp lý không?
Trả lời:

Theo quy định tại Điều 629, khoản 5 Điều 630 BLDS 2015 về di chúc miệng

  • Trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng.
  • Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.
  • Sau 03 tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ.
    Như vậy, ba ông vẫn khỏe mạnh thì sau 03 tháng di chúc miệng sẽ mặc nhiên hết hiệu lực.
    Thân chào ông.

Theo quy định tại Điều 629, khoản 5 Điều 630 BLDS 2015 về di chúc miệng

  • Trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng.
  • Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.
  • Sau 03 tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ.

Như vậy, ba ông vẫn khỏe mạnh thì sau 03 tháng di chúc miệng sẽ mặc nhiên hết hiệu lực.

Thân chào ông.

VĂN PHÒNG LUẬT SƯ LÊ GIANG với hơn 13 năm kinh nghiệm có thể tư vấn đến quý vị về nhiều vấn đề pháp lý đa dạng liên quan. Đặc biệt, lĩnh vực ĐẤT ĐAI, THỪA KẾ, VẤN ĐỀ TÀI SẢN CÓ LIÊN QUAN ĐẾN NGƯỜI VIỆT NAM ĐỊNH CƯ NƯỚC NGOÀI…là các dịch vụ pháp lý nổi bật của Văn phòng chúng tôi.

VĂN PHÒNG LUẬT SƯ LÊ GIANG

☎

Trụ sở : 47/1 Nguyễn Văn Đậu, Phường 6, Quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh  

Luật sư Lê Hoài Giang- Trưởng văn phòng: 0903 392 117 (Telephone, Zalo, Viber, Facetime…)  

Email: lsgiangle@gmail.com 

www.legianglaw.vn  

Theo nội dung quy định tại Điều 7 Nghị định 70/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của pháp lệnh ngoại hối và pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều pháp lệnh ngoại hối về việc chuyển tiền từ Việt Nam ra nước ngoài như sau:

2. Người cư trú là công dân Việt Nam được mua, chuyển, mang ngoại tệ ra nước ngoài theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho các mục đích sau:

a) Học tập, chữa bệnh ở nước ngoài;

b) Đi công tác, du lịch, thăm viếng ở nước ngoài;

c) Trả các loại phí, lệ phí cho nước ngoài;

d) Trợ cấp cho thân nhân đang ở nước ngoài;

đ) Chuyển tiền thừa kế cho người hưởng thừa kế ở nước ngoài;

e) Chuyển tiền trong trường hợp định cư ở nước ngoài;

g) Chuyển tiền một chiều cho các nhu cầu hợp pháp khác.

 …..

4. Tổ chức tín dụng được phép có trách nhiệm xem xét các chứng từ, giấy tờ do người cư trú, người không cư trú xuất trình để bán, chuyển, xác nhận nguồn ngoại tệ tự có hoặc mua từ tổ chức tín dụng được phép để mang ra nước ngoài căn cứ vào yêu cầu thực tế, hợp lý của từng giao dịch chuyển tiền.

 Như vậy, trường hợp người thừa kế là người Việt Nam định cư ở nước ngoài khi được hưởng di sản thừa kế thì số tiền này được quyền chuyển số tiền đó ra nước ngoài 1 cách hợp pháp thông qua các Ngân hàng được phép hoạt động ngoại hối.

 VĂN PHÒNG LUẬT SƯ LÊ GIANG chuyên tư vấn và hỗ trợ những hồ sơ khai di sản thừa kế và các dịch vụ pháp lý liên quan đến người Viêt Nam ĐỊNH CƯ Ở NƯỚC NGOÀI.

 Để có thể hỗ trợ cho khách hàng 1 cách tốt nhất, thuận lợi nhất, Văn phòng luật sư Lê Giang liên kết với NGÂN HÀNG TMCP QUÂN ĐỘI – MB BANK thực hiện việc chuyển tiền hợp pháp ra nước ngoài với các mục đích khác nhau. Quý khách hoàn toàn yên tâm về việc hoàn thiện hồ sơ, thủ tục, đảm bảo việc chuyển tiền uy tín, nhanh chóng linh hoạt và theo đúng quy định của pháp luật.

VĂN PHÒNG LUẬT SƯ LÊ GIANG CAM KẾT KHÔNG NHẬN PHÍ KHI HỒ SƠ KHÔNG HOÀN TẤT.

Nếu bạn đang có nhu cầu tư vấn cụ thể  hơn về vấn đề trên, vui lòng liên hệ với Văn phòng chúng tôi.

ĐỊA CHỈ: 47/1 Nguyễn Văn Đậu, Phường 6, Quận Bình Thạnh, TP. HCM. Trưởng văn phòng: Luật sư Lê Hoài Giang.

Luật sư tư vấn: 0903.392.117- 0902.268.667-0901.85 96 83 Website: legianglaw.vn Email: lsgiangle@gmail.com

Có nhiều cách để một người để lại tài sản cho những người thân, trong đó phổ biến nhất vẫn là cách lập di chúc. Việc lập di chúc được quy định cụ thể trong bộ luật dân sự 2015. Bài viết sau đây sẽ trình bày rõ hơn về quy định của pháp luật trong vấn đề này:

 Theo quy định, một di chúc được xem là có giá trị pháp lý khi di chúc đó đáp ứng các điều kiện cần thiết sau đây:

  • Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, ép buộc, cưỡng ép.
  • Nội dung không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, hình thức di chúc không trái quy định của luật.
  • Nếu người thụ hưởng là người đủ 15 tuổi  nhưng chưa đủ 18 tuổi thì phải có người giám hộ
  • Ngoài ra, các loại di chúc sau đây bắt buộc phải được lập thành văn bản và có công chứng, chứng thực mới được coi là hợp pháp:
  • Nếu trong số người thụ hưởng có trẻ em dưới 16 tuổi, thì phải chỉ được người giám hộ;


Nội dung của di chúc sẽ có các thông tin cần thiết sau đây:

  • Ngày tháng năm lập di chúc
  • Thông tin chi tiết về người để lại di chúc và người được thừa hưởng di sản (họ tên, năm sinh, nơi cư trú, CMND/Hộ chiếu…)
  • Nêu rõ về tài sản để lại di chúc và nơi có di sản.
  • Không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu
  • Người lập di chúc ký tên và điểm chỉ, ghi rõ ngày tháng lập.

Hình thức của di chúc: Di chúc phải được lập thành văn bản không có người làm chứng hoặc có người làm chứng, có công chứng hoặc chứng thực. Nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng.

Di chúc chỉ phát sinh hiệu lực khi người lập di chúc chết. Việc xác định một người là đã chết dựa theo giấy chứng tử hoặc quyết định của tòa án.

Đừng ngại liên hệ với chúng tôi nếu bạn cần tư vấn, hỗ trợ cho trường hợp cụ thể của  bạn:

VĂN PHÒNG LUẬT SƯ LÊ GIANG
47/1 Nguyễn Văn Đậu, Phường 6, Quận Bình Thạnh, Tp.HCM, VN

Trưởng văn phòng: Luật sư Lê Hoài Giang

Luật sư tư vấn Phone/Viber/Zalo: 0903.392.117- 0902.268.667- 0901.85 96 83

Web: www.legianglaw.vn
Email: lsgiangle@gmail.com