Bà Nguyễn Thị Cúc ở Tp. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai hỏi:

Vợ chồng tôi lấy nhau đã được hơn 10 năm, do tính tình không hòa hợp, nên chúng tôi đã ly thân nhiều năm nay, nhưng do vị trí công tác, lại sợ ảnh hưởng đến việc học hành của các con nên chúng tôi không ly hôn mà thỏa thuận yêu cầu Tòa án chia tài sản chung vợ chồng. Nhưng sau đó chồng tôi đột ngột qua đời vì một tai nạn, sau khi chồng tôi mất toàn bộ số tài sản của chồng tôi do gia đình nhà chồng chiếm hữu sử dụng hết. Bản thân tôi không có quyền lợi gì. Xin cho biết trường hợp chồng tôi chết không để lại di chúc thì tôi có được quyền yêu cầu chia di sản thừa kế mà chồng tôi để lại không?

Sau đây là nội dung tư vấn của Văn phòng luật sư Lê Giang- Legianglaw:

Chào bà Nguyễn Thị Cúc, theo nội dung bà trình bày, vợ chồng bà lấy nhau được 10 năm và do tính tình không hợp nhau nên sống ly thân mà không ly hôn, và vợ chồng bà yêu cầu chia tài sản chung, nhưng sau đó chồng bà đột ngột qua đời, toàn bộ tài sản của chồng bà do nhà chồng chiếm dụng. chồng bà chết không để lại di chúc và bà hỏi bà có quyền gì hay không.

Chúng tôi xin trả lời như sau:

Căn cứ vào Điều 29 của luật HNGĐ 2000, thì khi hôn nhân còn tồn tại, vợ chồng có quyền yêu cầu tài sản chung do vợ chồng tạo lập trong thời kỳ hôn nhân. Vợ chồng bà mặc dù đã chia tài sản chung nhưng chưa ly hôn nên bà và chồng bà vẫn có quyền và nghĩa vụ đối với nhau, có nghĩa là bà có quyền hưởng di sản do chồng bà để lại. Theo quy định tại Điều 651 BLDS 2015 thì cha mẹ chồng bà, bà và các con là hàng thừa kế thứ nhất đối với di sản do chồng bà chết để lại.

Bà có thể thương lượng với nhà chồng bà để bà và các con được hưởng phần di sản thừa kế từ chồng bà, trong trường hợp không thương lượng được bà có quyền khởi kiện để yêu cầu tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Hy vọng nội dung trên đây giúp bà làm rõ được những thắc mắc của bà.  Hãy liên hệ với chúng tôi nếu bạn cần tư vấn, hỗ trợ vấn đề cụ thể hơn:

VĂN PHÒNG LUẬT SƯ LÊ GIANG-LEGIANGLAW
 

47/1 Nguyễn Văn Đậu, Phường 6, Quận Bình Thạnh, Tp.HCM, VN

Trưởng văn phòng: Luật sư Lê Hoài Giang

Luật sư tư vấn Phone/Viber/Zalo: 0903.392.117- 0902.268.667- 0901.85 96 83

Web: www.legianglaw.vn
Email: giang.lehoai@legianglaw.vn

Việc một người bị tòa án tuyên bố là đã chết nhưng thực tế vẫn còn sống và trở về địa phương không phải là trường hợp hiếm, sự việc này xảy ra rất nhiều trong đời sống, mà phổ biến đối với những người trước năm 1975 vượt biên sang nước ngoài, có trường hợp bị chết trên đường vượt biên, có người thì bị đưa đi tị nạn ở một số nước khác trước khi đến Mỹ. Do đó, để thông tin cho người thân tại Việt Nam biết mình còn sống là điều không dễ dàng, người ở Việt Nam cũng vậy, không có cách để biết người thân của mình còn sống hay đã chết, đây là tình hình chung vào thời điểm đó.

Do người thân tại Việt Nam không liên lạc được nên cứ nghĩ là đã chết, nên họ đã làm thủ tục tuyênbố một người là đã chết, nhằm giải quyết một số thủ tục pháp lý liên quan đến nhân thân và tài sản tại Việt Nam như: tuyên bố chết và yêu cầu ly hôn đối với người vợ/chồng của người đó, bổ sung hồ sơ khai nhận di sản thừa kế do cha mẹ để lạiv.v.v….

Một vụ việc thực tế mà Văn phòng luậtsư Lê Giang-Legianglaw đã thực hiện: bà H có chồng và 03 người con đều vượt biên sang Mỹ vào năm 1986, sau đó mất liên lạc hoàn toàn với bà H. Trước khi vượt biên sang Mỹ thì bà H và chồng có tạo lập được 01 căn nhà tại quận 8, Tp.HCM và chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất.  Do đó, bà H đã lập thủ tục xin cấp giấy chứng nhận nhưng bị vướng do liên quan đến người chồng  – là đồng sở hữu và 03 người con là người thừa kế từ cha (cũng đã mất tích khi vượt biên). Vì vậy, bà H đã làm thủ tục tuyên bố một người là đã chết đối với chồng và 03 người con, cũng đã tiến hành làm giấy khai tử.

Tuy nhiên, nay bà X là con của bà H – là người còn sống duy nhất trong đợt vượt biên vào năm 1986 đã trở về Việt Nam, nhưng về mặt pháp lý bà X đã chết theo tuyên bố của tòa án. Bà X muốn khôi phục lại quyền và nghĩa vụ của mình để nhận phần di sản thừa kế do cha để lại đối với căn nhà nêu trên. Bà X đã đến VPLS Lê Giang nhờ tư vấn và hỗ trợ thực hiện các thủ tục pháp lý nói trên.

Sau khi nghiên cứu các chứng từ do khách hàng cung cấp và các quy định của pháp luật, VPLS Lê Giang- Legianglaw đã nhận  vụ việc và tiến hành nộp đơn yêu cầu hủy một phần quyết định tuyên bố một người là đã chết đối với bà X tại tòa án nhân dân Tp.HCM, đặc biệt khách hàng vẫn đang cư trú tại Mỹ, chỉ lập ủy quyền về Việt Nam cho luật sư đại diện cho mình từ khi nộp đơn cho đến khi có quyết định có hiệu lực pháp luật. Hiện tại bà X đã được khôi phục lại các quyền và nghĩa vụ của mình, được nhận phần di sản thừa kế do cha bà X để lại.

Đây khôngchỉ là vụ việc pháp lý đơn thuần – luật sư thực hiện thủ tục tố tụng tại tòa án,mà nó có ý nghĩa vô cùng đặc biệt, giúp cho một người “sống lại” về mặt pháp lý, khôi phục lại các quyền và lợi ích pháp lý đã bị mất.

Hy vọng nội dung của bài viết trên giúp bạn nắm được một số kiến thức để áp dụng vào thực tế. Nếu cần hiểu rõ hơn về trường hợp của cá nhân bạn thì bạn vui lòng liên lạc với chúng tôi để được luật sư tư vấn miễn phí.

——————————–
VĂN PHÒNG LUẬT SƯ LÊ GIANG- Legianglaw chuyên thực hiện các dịch vụ pháp lý đa dạng, đặc biệt xử lý những hồ sơ liên quan nhà đất KHÓ, PHỨC TẠP và liên quan đến người Viêt Nam ĐỊNH CƯ Ở NƯỚC NGOÀI.

Văn phòng chúng tôi cam kết không nhận phí khi hồ sơ không hoàn tất.

Địa chỉ văn phòng: 47/1 Nguyễn Văn Đậu, Phường 6, Quận Bình Thạnh, TP.HCM

Website: www.legianglaw.vn

Email: giang.lehoai@legianglaw.vn

Luật sư tư vấn(Telephone, zalo, viber) : 0903.392.117-0902.268.667- 0901.85.96.83.

Di sản thừa kế được phân loại thành bất động sản và động sản. Trong đó bất động sản thừa kế phổ biến nhất đó là nhà đất. Đây là loại tài sản có giá trị nên khi  nhận được thừa kế người thừa hưởng thường thắc mắc là họ có phải nộp loại thuế gì không ngoài giá trị tài sản họ được nhận. Qua bài viết này, Legianglaw sẽ cung cấp các thông tin cụ thể mà người nhận thừa kế sẽ phải nộp thuế hay không như sau:

1/ Thu nhập phải nộp thuế thu nhập cá nhân 

Theo quy định tại Điểm c, Khoản 9 Điều 2 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính đối với các trường hợp phải nộp thuế thu nhập cá nhân khi nhận thừa kế là bất động sản bao gồm: quyền sử dụng đất; quyền sử dụng đất có tài sản gắn liền với đất; quyền sở hữu nhà, kể cả nhà ở hình thành trong tương lai; kết cấu hạ tầng và các công trình xây dựng gắn liền với đất, kể cả công trình xây dựng hình thành trong tương lai; quyền thuê đất; quyền thuê mặt nước; các khoản thu nhập khác nhận được từ thừa kế là bất động sản dưới mọi hình thức; trừ thu nhập từ thừa kế là bất động sản theo hướng dẫn tại Điểm d, Khoản 1, Điều 3 Thông tư này.

Cũng theo quy định tại Thông tư này thì thu nhập từ nhận thừa kế, nhận quà tặng là bất động sản (gồm cả nhà ở và công trình xây dựng hình thành trong trương lai) giữa những người sau đây thì được miễn thuế thu nhập cá nhân:

– Giữa vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi;
– Cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha mẹ vợ, mẹ vợ với con rể;
– Ông bà nội ngoại với các cháu; anh chị em ruột với nhau;

2/ Nộp lệ phí trước bạ:

Khoản 10 Điều 9 Nghị định số 140/2016/NĐ-CP quy định về những trường hợp không phải đóng lệ phí trước bạ gồm:

Nhà, đất nhận thừa kế hoặc là quà tặng giữa: Vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị, em ruột với nhau
Những người có mối quan hệ với nhau như trên khi tiến hành xin cấp giấy chứng nhận đất thừa kế, cho tặng thì được miễn hoàn toàn lệ phí trước bạ.

Nếu không thuộc các trường hợp trên thì khi đăng ký chuyển quyền sử dụng đất người hưởng thừa kế đất đai phải nộp thuế thu nhập cá nhân (2%), lệ phí trước bạ (0,5%) theo quy định chung.

Như vậy, người nhận được thừa kế sẽ phải đóng các loại thuế như trên hay không tùy vào từng trường hợp cụ thể mà pháp luật quy định. Cần tư vấn chi tiết hơn hoặc cần hỗ trợ thực hiện các thủ tục pháp lý, vui lòng liên hệ với chúng tôi:

VĂN PHÒNG LUẬT SƯ LÊ GIANG- chuyên thực hiện các dịch vụ pháp lý đa dạng, đặc biệt xử lý những hồ sơ liên quan thửa kế, nhà đất KHÓ và liên quan đến người Viêt Nam ĐỊNH CƯ Ở NƯỚC NGOÀI.

Chúng tôi sẽ tư vấn, hỗ trợ, hướng dẫn cho các bạn từng bước thủ tục cho đến khi có hoàn tất các thủ tục cần thiết.

Địa chỉ văn phòng: 47/1 Nguyễn Văn Đậu, Phường 6, Quận Bình Thạnh, TP.HCM

Website: www.legianglaw.vn

Email: giang.lehoai@legianglaw.vn

Luật sư tư vấn(Telephone, zalo, viber) : 0903.392.117-0902.268.667- 0901.85.96.83.

Thực hiện quyền của chủ sở hữu, chủ sử dụng bất động sản do cha mẹ để lại,người Việt Nam khi định cư ở nước ngoài khi muốn mua bán nhà, chuyển nhượng đất, khai nhận di sản hoặc thực hiện các thủ tục hành chính khá tại Việt Nam, nhưng không có điều kiện về Việt Nam, thì sẽ được thực hiện bằng phương thức ký Hợp đồng ủy quyền cho người thân ở Việt Nam thực hiện thay. Hợp đồng ủy quyền phải được công chứng tại cơ quan Đại sứ quán hoặc Lãnh sự quán Việt Nam tại nước nơi người ủy quyền cư trú, khi công chứng, cơ quan công chứng thường chỉ giao cho người yêu cầu công chứng 01 bản chính văn bản công chứng để gửi về Việt Nam. Trước đây, việc người ủy quyền chỉ gửi 01 bản chính ủy quyền về Việt Nam, người nhận ủy quyền vẫn được giữ bản chính.

Tuy nhiên, hiện nay theo Công văn số 2565/BTP-BTTP ngày 16/7/2020 của Bộ Tư Pháp hướng dẫn thực hiện nghiệp vụ công chứng, thì đối với trường hợp chứng thực Hợp đồng ủy quyền, mà nên ủy quyền và bên được ủy quyền không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng để ký ủy quyền, thì bên ủy quyền yêu cầu tổ chức hành nghề công chứng nơi họ cư trú công chứng hợp đồng ủy quyền; bên được ủy quyền yêu cầu tổ chức hành nghề công chứng nơi họ cư trú công chứng tiếp vào bản gốc hợp đồng ủy quyền này. Điều này đồng nghĩa với việc, tổ chức hành nghề công chứng tại Việt Nam sẽ lưu 01 bản chính Hợp đồng ủy quyền, như vậy người được ủy quyền ở Việt Nam chỉ được giữa bản sao hợp đồng ủy quyền.

Theo quy định Luật công chứng năm 2014 và Nghị định 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 không có quy định hạn chế số lượng bản chính văn bản khi công chứng hợp đồng, giao dịch. Do đó, khi ký Hợp đồng ủy quyền từ nước ngoài về Việt Nam để thực hiện công việc, người yêu cầu công chứng có quyền yêu cầu cơ quan công chứng cấp đủ số lượng bản chính văn bản công chứng theo nhu cầu sử dụng, ít nhất là 02 bản chính trở lên.

Lưu ý quan trọng trên nhằm giúp cho mọi người thực hiện công chứng ủy quyền được đầy đủ, tránh việc phải làm lại lần thứ hai, mất thời gian và chi phí.

Văn phòng luật sư Lê Giang có hỗ trợ soạn thảo và thực hiện thủ tục công chứng Hợp đồng ủy quyền tại cơ quan Lãnh sự quán/Đại sứ quánViệt Nam tại Hoa Kỳ, với thủ tục nhanh gọn, tiện íchvà chi phí hợp lý.

Xin liên hệ với chúng tôi để được tư vấnvà thực hiện dịch vụ một cách tốt nhất.

VĂN PHÒNG LUẬT SƯ LÊ GIANG với hơn 13 năm kinh nghiệm chuyên xử lý những hồ sơ liên quan đến người Việt Nam ĐỊNH CƯ Ở NƯỚC NGOÀI.

VĂN PHÒNG CHÚNG TÔI CAM KẾT KHÔNG NHẬN PHÍ KHI HỒ SƠ KHÔNG HOÀN TẤT.

Trụ sở : 47/1 Nguyễn Văn Đậu, Phường 6, Quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh
☎ Luật sư Lê Hoài Giang: 0903 392 117 (Telephone, Zalo, Viber, Facetime…)

   Website: www.legianglaw.vn

    Email: giang.lehoai@legianglaw.vn

Trong quá trình tư vấn về di chúc và thừa kế cho khách hàng ,Văn phòng luật sư Lê Giang- LEGIANGLAW thường được hỏi rất nhiều câu hỏi liên quan như : Tôi có nguyện vọng để di chúc 1 phần tài sản làm nơi thờ cúng có được không? tôi có được chỉ định người được thừa kế trong di chúc?, tôi có được phân chia phần tài sản cho từng người hay không?Di chúc có thể được bổ sung hay sửa đổi không?… Nội dung bài viết sau đây sẽ tổng hợp lại các quyền của người lập di chúc để trả lời các câu hỏi trên theo những quy định của pháp luật hiện hành.

1/Chỉ định người thừa kế và có quyền truất quyền hưởng di sản của người thừa kế

  • Người để lại di chúc có quyền chỉ định người thừa kế ý chí nguyện vọng cá nhân của mình mà không phụ thuộc vào ý chí của các chủ thể khác ( cá nhân, tổ chức, pháp nhân).
  • Người để lại di sản thừa kế có quyền truất quyền hưởng di sản của người thừa kế nhưng trừ các trường hợp  được hưởng di sản thừa kế mà không phụ thuộc vào nội dung của di chúc bao gồm con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng hoặc con chưa thành niên mà không có khả năng lao động sẽ được hưởng số di sản thừa kế bằng hai phần ba suất di sản của người thừa kế theo pháp luật.

2/ Có quyền phân chia khối di sản cho từng người thừa kế

  • Người để lại di sản thừa kế có quyền phân chia cụ thể cho người thừa kế nào hưởng phần di sản là bao nhiêu hoặc hưởng di sản là hiện vật gì đối với di sản thừa kế thuộc quyền sở hữu của mình.

3/ Có quyền dành một phần di sản vào việc thờ cúng, di tặng.

  • Người để lại di sản có quyền dùng một phần di sản của mình vào việc thờ cúng và chỉ định một người trong di chúc thực hiện việc quản lý tài sản đó. Tuy nhiên, trường hợp toàn bộ di sản của người chết không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó thì không được dành một phần di sản dùng vào việc thờ cúng.
  • Di tặng là việc người để lại di sản dành một phần trong số di sản thừa kế để tặng cho người khác và điều này được thể hiện rõ trong di chúc.

4/ Giao nghĩa vụ cho người thừa kế

  • Nếu người để lại di sản chưa thực hiện một số công việc liên quan đến lợi ích vật chất của người khác trước khi qua đời thì người nhận thừa kế phải thực hiện thay như việc trả nợ hoặc bồi thường thiệt hại,… Người thừa kế không có trách nhiệm thực hiện toàn bộ nghĩa vụ mà người để lại di sản thừa kế để lại mà chỉ thực hiện phần nghĩa vụ trong phạm vi di sản được hưởng của mình trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
  • Tuy nhiên người thừa kế không phải thực hiện các nghĩa vụ gắn liền với nhân thân của người để lại di sản.

5/ Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản

  • Để đảm bảo nguyện vọng của mình không bị người khác xâm phạm hoặc tránh việc di chúc bị thất lạc, hư hỏng, người để lại di sản được quyền chỉ định giao nhiệm vụ cụ thể về người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản.

6/ Sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc

  • Người để lại di sản có quyền tự mình sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc hủy bỏ di chúc theo ý chí cá nhân của mình. 
  • Sửa đổi di chúc là người để lại di sản bằng ý chí của mình phủ nhận một phần của di chúc và thay thế những nội dung mới, theo đó phần mới sửa đổi sẽ là phần có hiệu lực thay thế phần bị sửa đổi.
  • Bổ sung di chúc là việc mà người để lại di sản bổ sung những điều chưa có của di chúc hoặc làm rõ hơn, chi tiết hơn những điều đã được quy định trong di chúc. Theo đó, cả phần nội dung hiện tại và phần nội dung mới được bổ sung cùng có hiệu lực.
  • Thay thế di chúc là việc người để lại di sản thừa kế hủy bỏ toàn bộ bản di chúc cũ và thay vào đó là một di chúc mới.
  • Hủy bỏ di chúc là việc người để lại di sản thừa kế hủy bỏ toàn bộ bản di chúc cũ nhưng không lập ra bản di chúc mới thay thế.

VĂN PHÒNG LUẬT SƯ LÊ GIANGLEGIANGLAW hơn 13 năm kinh nghiệmchuyên xử lý những hồ sơ di chúc, tranh chấp thừa kế , khai di sản thừa kế KHÓ và thừa kế liên quan đến người Viêt Nam ĐỊNH CƯ Ở NƯỚC NGOÀI.

Bạn còn nhiều các vấn đề cần tư vấn liên quan đến thủ tục lập di chúc này? Hãy liên lạc với chúng tôi để được hỗ trợ, hướng dẫn các bạn từng bước thủ tục cho đến khi có hoàn tất các thủ tục cần thiết:

– Tư vấn về thủ tục lập di chúc;

– Tư vấn quyền và nghĩa vụ của người lập di chúc;

– Tư vấn sửa đổi, bổ sung, thay thế di chúc;

– Tư vấn thủ tục công chứng, chứng thực, gửi giữ di chúc ;

– Tư vấn thủ tục công bố di chúc;

 – Tư vấn giải thích nội dung di chúc.

VĂN PHÒNG LUẬT SƯ LÊ GIANG

Trụ sở: 47/1 Nguyễn Văn Đậu, Phường 6, Quận Bình Thạnh, TP.HCM, Việt nam.

Trưởng văn phòng: Luật sư Lê Hoài Giang

Luật sư tư vấn (Telephone, zalo, viber) : 0903.392.117-0902.268.667-
0901.85.96.83.

Website: legianglaw.vn
Email: giang.lehoai@legianglaw.vn

Thừa kế theo pháp luật là việc dịch chuyển tài sản của người chết cho những người còn sống theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định. Người được thừa kế theo pháp luật là những người có quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân và nuôi dưỡng. Hàng thừa kế thứ 2 được quyền thừa kế khi không còn ai ở hàng thừa kế thứ 1 do đã chết, không có quyền hưởng di sản,bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.Vậy pháp luật quy định hàng thừa kế thứ 2 gồm những ai và cụ thể trường hợp nào thì hàng thừa kế thứ 2 được hưởng thừa kế di sản.

Bài viết sau sẽ giúp bạn hiểu rõ quy định pháp luật về vấn đề này.

1. Hàng thừa kế thứ 2 gồm những ai?

Tại điều 651 Bộ luật dân sự 2015 quy định gồm có 3 hàng thừa kế theo pháp luật như sau:

– Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết.

– Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại.

– Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

Để xác định hàng thừa kế thứ cần làm rõ các khái niệm ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại và anh chị em ruột.

Cụ thể ông nội, bà nội là người đã sinh ra cha của một người; ông ngoại, bà ngoại là người đã sinh ra mẹ của người đó. Anh, chị, em ruột là những người có cùng ít nhất cha hoặc mẹ. Quan hệ này chỉ được xác định trên quan hệ huyết thống.

Như vậy, hàng thừa kế thứ 2 gồm những người có quan hệ với người chết dưới đây:

– Ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột;

– Cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

2. Khi nào hàng thừa kế thứ 2 được hưởng thừa kế?

Theo quy định pháp luật hiện hành thì những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản theo nguyên tắc những người thừa kế cùng hàng sẽ được hưởng phần di sản bằng nhau. Do đó, hàng thừa kế thứ 2 được xét để hưởng di sản thừa kế trong các trường hợp sau:

  • Người để lại di sản không có di chúc
  • Di chúc không hợp pháp
  • Hàng thừa kế thứ 1 không còn ai, do đã chết hoặc không có quyền hưởng di sản;
  • Người ở hàng thừa kế thứ 1 bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản thừa kế;

Trên đây là nội dung tư vấn của chúng tôi về 1 số thông tin liên quan đến hàng thừa kế thứ 2 theo quy định pháp luật.

Để được tư vấn cụ thể về trường hợp của bạn, hãy liên lạc với Luật sư của chúng tôi để được hỗ trợ:

Văn phòng luật sư Lê Giang
Địa chỉ: 47/1 Nguyễn Văn Đậu, phường 6,  Q. Bình Thạnh, TP. HCM.
Điện thoại: 028 6672 6117   

Trưởng văn phòng: Luật sư Lê Hoài Giang

Điện thoại:0903.392.117 (Telephone, Zalo, Viber…)

Email: lsgiangle@gmail.com

www.legianglaw.com.vn

Bà Nguyễn Thị Ngọc ở Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh hỏi:

Cha tôi mất năm 2000, mẹ tôi cũng mất vào năm 2018, cha mẹ tôi có để lại tài sản là mảng đất đã được cấp quyền sử dụng đất đứng tên cha mẹ tôi. Cha mẹ tôi có 2 người con: tôi và 2 người em trai. Hiện tại 3 chị em dang muốn làm thủ tục để sang tên sổ đỏ. Ông bà nội ngoại của chúng tôi đã mất hết rồi . Xin được tư vấn: khi làm thủ tục sang tên qua 3 chị em chúng tôi thì chúng tôi có mất thuế thu nhập cá nhân và lệ phí trước bạ hay không? Hồ sơ thủ tục thừa kế bao gồm những gì?

Trả lời:

Văn phòng luật sư Lê Giang xin cám ơn bà đã tin tưởng văn phòng chúng tôi và tư vấn trường hợp gia đình bà như sau:

1/ Về thuế thu nhập cá nhân:

Theo khoản 9 Điều 2 Thông tư 111/2013/TT-BTC thu nhập từ nhận thừa kế phải nộp thuế thu nhập cá nhân (TNCN) gồm:

– Nhận thừa kế là chứng khoán bao gồm: Cổ phiếu, quyền mua cổ phiếu, trái phiếu, tín phiếu, chứng chỉ quỹ và các loại chứng khoán khác; cổ phần của cá nhân trong công ty cổ phần theo quy định.

– Nhận thừa kế là phần vốn trong các tổ chức kinh tế, cơ sở kinh doanh.

– Nhận thừa kế là bất động sản gồm: Quyền sử dụng đất; quyền sở hữu nhà…

– Nhận thừa kế là các tài sản khác phải đăng ký quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng với cơ quan quản lý Nhà nước như: Ô tô; xe gắn máy, xe mô tô…

Tuy nhiên tại Khỏan 4 Điều 4 Nghị định Số: 65/2013/NĐ-CP có quy định: Thu nhập từ nhận thừa kế, quà tặng là bất động sản ( bao gồm cả nhà ở, công trình xây dựng hình thành trong tương lai theo quy định của pháp luật về kinh doanh bất động sản ) giữa: Vợ với chồng, cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha mẹ chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngọai; anh, chị em ruột với nhau.

Do đó, đối với trường hợp của bà thì chỉ khi nào nhận được thừa kế là bất động sản, tài sản khác phải đăng ký, chứng khoán, nhận thừa kế là phần vốn trong các tổ chức kinh tế, cơ sở kinh doanh thì mới phải nộp thuế thu nhập cá nhân trừ trường hợp nhận thừa kế là bất động sản từ người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng như: Giữa vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi.

2/ Lệ phí trước bạ:

Về lệ phí trước bạ sẽ được miễn theo quy định tại khỏan 10 Điều 9 Nghị định Số: 140/2016/NĐ-CP như sau:

Nhà, đất nhận thừa kế hoặc là quà tặng giữa: Vợ với chồng; cha đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị, em ruột với nhau nay được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của bạn. Còn thông tin nào thắc mắc, đừng ngại liên lac lại với văn phòng chúng tôi.

Thân chào bà.

Văn Phòng luật Lê Giang với thế mạnh hơn 13 năm kinh nghiệm giải quyết các hồ sơ liên quan Luật thừa kế khó và phức tạp, chúng tôi tự tin tìm cách tháo dỡ những khúc mắc trong từng hồ sơ, giúp khách hàng giải quyết các thắc mắc, tranh chấp theo đúng quy định của pháp  luật.


VĂN PHÒNG LUẬT SƯ LÊ GIANG

Địa chỉ: 47/1 Nguyễn Văn Đậu, Phường 6, Quận Bình Thạnh,, TP.HCM, Việt nam.

Trưởng văn phòng: Luật sư Lê Hoài Giang

Luật sư tư vấn(Telephone, zalo, viber) : 0903.392.117-0902.268.667- 0901.85.96.83.

Website: legianglaw.vn
Email: lsgiangle@gmail.com

Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ hôn nhân do Tòa án quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc của chồng hoặc cả hai vợ chồng, hủy bỏ các trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm của hôn nhân và các ràng buộc dân sự khác.Trong trường hợp đang hoặc đã ly hôn rồi, người chồng mất thì người vợ có được yêu cầu hưởng thừa kế của chồng không? bài viết sẽ đề cập đến các trường hợp xảy ra theo quy định pháp luật cho vấn đề này như sau:

1. Đang trong giai đoạn tiến hành thủ tục ly hôn

Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình :Quan hệ hôn nhân chỉ chấm dứt vào ngày bản án, quyết định ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Nghĩa là thời điểm đang tiến hành làm thủ tục ly hôn quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng vẫn còn tồn tại, vẫn là vợ chồng hợp pháp.

Do đó khi một trong hai người chết trong thời gian hai vợ chồng đang tiến hành thủ tục ly hôn và bản án hoặc quyết định ly hôn của Tòa chưa có hiệu lực pháp luật thì quan hệ thừa kế vẫn phát sinh, người còn sống vẫn được hưởng thừa kế. (quy định tại Điều 655 Bộ luật dân sự 2015).

2. Người chồng mất có để lại di chúc chỉ định người vợ được hưởng tài sản.

Di chúc là ý chí, ý nguyện cuối cùng của một người , định đoạt tài sản của người đó sau khi chết cho người khác. Do đó nếu người chồng chết mà có để lại di chúc trong đó chỉ định người vợ được hưởng tài sản thì căn cứ vào phần di sản được phân trong di chúc mà người vợ  sẽ được hưởng.

Tuy nhiên, theo quy định về pháp luật thừa kế thì di chúc được coi là hợp pháp phải đủ các điều kiện sau:

  • Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép;
  • Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật.
  • Về hình thức của di chúc: Di chúc phải được lập thành văn bản, nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng.

Như vậy, khi đã ly hôn rồi thì người vợ chỉ được hưởng di sản thừa kế của người chống nếu được người chồng phân chia và được chỉ định trong di chúc và di chúc này phải có hiệu lực pháp luật.

3. Khi đã kết hôn với người khác  

Ngoài ra, cũng tại Điều 655 Bộ luật dân sự 2015 quy định: Người đang là vợ hoặc chồng của một người tại thời điểm người đó chết thì dù sau đó có kết hôn với người khác vẫn được thừa kế di sản.

Bởi lẽ thời điểm người chồng cũ chết, quan hệ hôn nhân giữa hai người vẫn tồn tại. Do đó, khi người chồng chết,người vợ vẫn thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người để lại di sản thừa kế.

4. Được hưởng thừa kế từ con chung với chồng cũ

Nếu trường hợp người chồng cũ chết trước và con chung của hai vợ chồng chết sau thì người vợ cũ cũng là 1 đồng thừa kế di sản cùng với những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người con sẽ được hưởng phần di sản thừa kế mà lẽ ra người này được hưởng từ bố.

Di sản của đứa con sẽ được chia đều cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất. Những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất bao gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết. Người vợ cũ trong trường hợp này là hàng thừa kế thứ nhất của đứa con với chồng cũ . Do đó người vợ cũ có quyền hưởng di sản thừa kế do chồng cũ để lại.

Như vậy, đối với từng trường hợp cụ thể như đã nêu ở trên mà người vợ cũ có quyền được hưởng thừa kế từ chồng cũ để lại theo quy định của pháp luật hiện hành.

Trên đây là nội dung tư vấn của Văn phòng luật sư Lê Giang.
Nếu  bạn còn bất cứ vấn đề gì chưa rõ, vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi để được tư vấn, giải đáp một cách cụ thể nhất.

VĂN PHÒNG LUẬT SƯ LÊ GIANG- LEGIANGLAW

Trụ sở: 47/1 Nguyễn Văn Đậu, Phường 6, Quận Bình Thạnh, TP.HCM, Việt Nam.

Luật sư Lê Hoài Giang: 0903.392.117

Email: lsgiangle@gmail.com

Website: legianglaw.vn

Thừa kế di sản luôn là 1 vấn đề thường xuyên xảy ra trong cuộc sống và nó làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của những người nhận thừa kế đối với người để lại di sản thừa kế. Khi một người mất đi để lại di chúc mà còn những khoản nợ chưa trả thì người nhận thừa kế có được từ chối thừa kế này không, việc thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại như thế nào theo quy định pháp luật? Để trả lời cho câu hỏi này, mời bạn đọc tham khảo bài viết dưới đây để có thêm thông tin về vấn đề này.

1/ Về nghĩa vụ tài sản của người nhận thừa kế:

  • Điều 615 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại như sau:

1. Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2. Trường hợp di sản chưa được chia thì nghĩa vụ tài sản do người chết để lại được người quản lý di sản thực hiện theo thỏa thuận của những người thừa kế trong phạm vi di sản do người chết để lại.

3. Trường hợp di sản đã được chia thì mỗi người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại tương ứng nhưng không vượt quá phần tài sản mà mình đã nhận, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

4. Trường hợp người thừa kế không phải là cá nhân hưởng di sản theo di chúc thì cũng phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại như người thừa kế là cá nhân.

Như vậy, nếu người thừa kế được hưởng di sản theo di chúc của cha để lại thì chỉ có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại trong phạm vi di sản (trừ trường hợp có thỏa thuận khác) mà không có trách nhiệm thực hiện phần vượt quá. Nói cụ thể hơn là nếu số nợ của người chết để lại lớn hơn giá trị di sản thì người sống cũng không có nghĩa vụ phải trả nợ phần chênh lệch.

2/  Về việc từ chối di sản thừa kế:

  • Tại Bộ luật Dân sự 2015 có quy định: “Di sản thừa kế là phần tài sản đã được người mất định đoạt chia lại cho một ai đó theo di chúc hoặc theo pháp luật, việc để lại di sản thừa kế cho một người được coi là hành vi pháp lý đơn phương, do vậy, người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản thừa kế đối với phần tài sản mà mình được nhận” và “Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác”.

Với quy định nói trên thì người nhận thừa kế cần làm thủ tục để từ chối nhận di sản nếu không muốn chịu trách nhiệm trả nợ thay cho người đã chết. Tuy nhiên, việc người nhận thừa kế từ chối nhận di sản cũng không làm thay đổi nghĩa vụ tài sản do người chết để lại đối với chủ nợ. Nếu người nhận thừa kế từ chối, chủ nợ vẫn có quyền yêu cầu người thừa kế tiếp theo thanh toán nợ cho họ trong phạm vi số tài sản người chết để lại.

Ngoài ra, cần lưu ý việc từ chối di sản cần phải được thực hiện trước thời điểm phân chia di sản, đồng thời việc từ chối này phải lập bằng văn bản và gửi đến người quản lý di sản, những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản để biết.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi theo 1 số quy định của pháp luật về thừa kế. Bạn đang có vướng mắc, băn khoăn các vấn đề liên quan đến luật thừa kế hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận luật sư của chúng tôi để được tư vấn chi tiết.


——————————–
VĂN PHÒNG LUẬT SƯ LÊ GIANG chuyên thực hiện các dịch vụ pháp lý đa dạng, đặc biệt xử lý những hồ sơ liên quan NHÀ ĐẤT KHÓ và liên quan đến người Viêt Nam ĐỊNH CƯ Ở NƯỚC NGOÀI.

Chúng tôi sẽ tư vấn, hỗ trợ, hướng dẫn cho các bạn từng bước thủ tục cho đến khi có hoàn tất các thủ tục cần thiết.


Văn phòng chúng tôi cam kết không nhận phí khi hồ sơ không hoàn tất.

VĂN PHÒNG LUẬT SƯ LÊ GIANG- LEGIANGLAW

Địa chỉ trụ sở: 47/1 Nguyễn Văn Đậu, Phường 6, Quận Bình Thạnh, TP.HCM

Website: legianglaw.vn
Email: lsgiangle@gmail.com
Luật sư tư vấn(Telephone, zalo, viber) : 0903.392.117-0902.268.667- 0901.85.96.83.

Mỗi cá nhân đều có quyền bình đẳng về quyền được hưởng di sản thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật. Vậy khi ông bà mất đi, cháu (nội, ngoại) có được hưởng di sản thừa kế hay không, trong những trường hợp nào?Nội dung bài viết sau sẽ đề cập đến những quy định của pháp luật về vấn đề này.

Theo quy định của Bộ luật dân sự 2015: Di chúc thể hiện ý chí, nguyện vọng của cá nhân nhằm  chuyển tài sản do mình sở hữu cho người khác sau khi chết. Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. Do đó, ông bà hoàn toàn có quyền chỉ định người thừa kế cũng như phân định phần di sản cho các cháu nội, ngoại.

Cụ thể, cháu sẽ nhận được thừa kế từ ông bà trong những trường hợp sau:

– Trường hợp 1: Hưởng di sản thừa kế theo di chúc

Theo quy định tại Điều 624 Bộ luật dân sự năm 2015 : Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Người để lại di chúc hoàn toàn có quyền tự mình quyết định, định đoạt ai là người được hưởng số tài sản của mình. Nội dung di chúc rất đa dạng như điều căn dặn con cháu, bí mật của gia đình dòng họ được tiết lộ, lập hương hỏa, phân chia di sản cho từng người…

Bởi vậy, nếu trong di chúc, ông, bà có để lại di sản cho người cháu thì hiển nhiên người cháu được quyền hưởng di sản thừa kế từ ông, bà một cách hợp pháp.

– Trường hợp 2: Thừa kế thế vị

Điều 652 BLDS quy định: Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống.

Trong trường hợp này, đáng nhẽ con của ông bà (tức bố mẹ của người cháu ) sẽ được hưởng khối di sản này nhưng người đó lại mất trước hoặc cùng thời điểm với ông bà thì cháu sẽ được thay cha hoặc mẹ mình hưởng phần di sản thừa kế mà người bố, mẹ của mình lẽ ra sẽ được hưởng nếu vẫn còn.

Bố, mẹ của các cháu là các đối tượng thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông bà, do đó nếu ông bà chết trước thì quyền hưởng thừa kế di sản này thuộc về bố, mẹ và hình thức thừa kế thế vị sẽ không được áp dụng trong trường hợp này.

Trường hợp 3: Thừa kế theo pháp luật do không có hàng thừa kế thứ nhất

Theo quy định về hàng thừa kế trong Bộ luật dân sự 2015 thì:

“a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

2. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Trong trường hợp ông bà không còn người thuộc hàng thừa kế thứ nhất còn sống thì cháu (hàng thừa kế thứ 2) được hưởng di sản của ông bà.

Trường hợp 4: Hưởng di sản thừa kế theo pháp luật

  • Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 650 của Bộ luật dân sự 2015 bao gồm:
    • Không có di chúc;
    • Di chúc không hợp pháp ;
    • Người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc cùng thời điểm với người lập di chúc
    • Cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế
    • Người được hưởng thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản
  • Theo quy định tại Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015, người cháu thuộc hàng thừa kế thứ hai, gồm:
    • Ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại,
    • Anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết;
    • Cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại
  • Trong trường hợp này, người cháu (là hàng thừa kế thứ 2)  được hưởng di sản thừa kế khi không còn ai ở hàng thừa kế thứ nhất vì các lý do sau:
    • Chết
    • Không có quyền hưởng di sản
    • Bị truất quyền hưởng di sản
    • Từ chối nhận di sản

Như vậy: Có thể kết luận cháu có quyền hưởng thừa kế của ông bà theo di chúc hoặc thừa kế theo pháp luật khi thỏa mãn theo các quy định đã đề cập như trên.

Hy vọng nội dung bài viết này đã giúp độc giả nắm được 1 số quy định về  thừa kế của cháu đối với di sản của ông bà để lại.

VĂN PHÒNG LUẬT SƯ LÊ GIANG với hơn 13 năm kinh nghiệm có thể tư vấn đến quý vị về nhiều vấn đề pháp lý đa dạng liên quan. đặc biệt xử lý những hồ sơ liên quan nhà đất KHÓ và liên quan đến người Viêt Nam ĐỊNH CƯ Ở NƯỚC NGOÀI.…là các dịch vụ pháp lý nổi bật của Văn phòng chúng tôi.

Chúng tôi sẽ tư vấn, hỗ trợ, hướng dẫn cho các bạn từng bước thủ tục cho đến khi có hoàn tất các thủ tục cần thiết.


Văn phòng chúng tôi cam kết không nhận phí khi hồ sơ không hoàn tất.

——————————–


VĂN PHÒNG LUẬT SƯ LÊ GIANG -LEGIANGLAW

Địa chỉ văn phòng: 47/1 Nguyễn Văn Đậu, Phường 6, Quận Bình Thạnh, TP.HCM

Điện thoại: 028. 66726117

Luật sư tư vấn(Telephone, zalo, viber) : 0903.392.117-0902.268.667- 0901.85.96.83.

Web: www.legianglaw.vn
Email: lsgiangle@gmail.com